Phân tích tính dân tộc trong 8 câu đầu bài thơ Việt Bắc

Bạn đang xem: Phân tích tính dân tộc trong 8 câu đầu của bài thơ Việt Bắc. Trong dienchau2.edu.vn

Mời các bạn tham khảo bài Phân tích tính dân tộc trong 8 câu đầu của bài thơ Việt Bắc để thấy được không khí chia ly, gắn bó, thủy chung của những người kháng chiến và nhân dân chiến khu.

Chủ đề: Phân tích tính dân tộc trong 8 câu đầu của bài thơ Việt Bắc.

Mục lục bài viết:
I. Đề cương cụ thể
II. Bài văn mẫu

Phân tích tính dân tộc trong 8 câu đầu của bài thơ Việt Bắc.

I. Dàn ý Phân tích tính dân tộc 8 câu đầu bài thơ Việt Bắc (Chuẩn)

1. Mở bài

Giới thiệu bài thơ Việt Bắc và 8 dòng đầu của bài thơ.

2. Cơ thể

một. Tổng quan về tình huống thông minh:
+ Sáng tác năm 1954, khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, Trung ương Đảng và các đồng chí lão thành cách mạng rời chiến khu Việt Bắc trở về Hà Nội.
+ Việt Bắc là sự khẳng định tình cảm thủy chung, thắm thiết của người cách mạng đối với nhân dân và chiến khu Việt Bắc.

b. Tính dân tộc trong 8 câu thơ đầu:

– Biểu hiện của tính dân tộc được thể hiện qua 8 câu thơ:
+ Thể loại thơ tha thiết, giàu nhạc điệu.
+ Cách đối đáp, xưng hô – Làm quen với các làn điệu dân ca.
=> Tố Hữu đã tái hiện một cách sinh động cảnh chia ly, đồng thời khiến lời ca ngọt ngào, tha thiết như một lời tâm tình.

– Bốn câu thơ đầu: Lời người ở lại.
+ “Ta – ta” là tên thường dùng trong ca dao, ở đây dùng để chỉ người đi cách mạng (người ra đi), chiến khu (người ở lại).
+ Câu hỏi tu từ “Có thương, có nhớ” mở ra cảnh chia ly và cuộc trò chuyện thân mật, nhớ nhung của chiến khu với những người cách mạng.
→ Gợi kỉ niệm, không gian cội nguồn, tình nghĩa thuỷ chung giữa người đi và người ở.
+ Từ “tôi” được lặp lại hai lần trong câu thơ lục bát cùng với sự xuất hiện của nhiều thanh điệu bằng nhau khiến câu thơ như trùng xuống, xúc động cũng như lo lắng, da diết hơn.
+ Từ “nhớ” được lặp lại 4 lần càng khắc sâu nỗi nhớ da diết, nỗi nhớ da diết không thể rời xa.
=> Người ở lại đặt câu hỏi tu từ vừa gợi cho người trở về tình nghĩa, kỉ niệm với Việt Bắc, vừa khẳng định tình cảm chân thành, tha thiết.

– Bốn câu thơ sau: Lời thú tội của người ra đi
+ “Giọng ai” ở đây là đại từ biến, có thể là tiếng của nhân vật xuất hiện trong bữa tiệc chia tay, hoặc cũng có thể là tiếng nhớ Việt Bắc nói chung.
+ Các từ “bùi ngùi, xao xuyến, háo hức” đã chạm đến cảm xúc nhớ nhung của người cách mạng.
→ Nỗi nhớ như một làn sóng dồn nén nhưng cũng vô cùng mãnh liệt trong lòng mỗi người cách mạng.
+ Ở câu 7, 8, nhịp thơ thay đổi linh hoạt 3/3, 3/3/2 gợi tâm trạng bối rối, những bước chân ngập ngừng như muốn đi mà chẳng muốn đi.
+ Hình ảnh “áo chàm” không chỉ gợi màu áo quen thuộc, giản dị mà còn gợi tình cảm thủy chung, son sắc không bao giờ phai nhạt trong lòng những người cách mạng.
+ Sự lưu luyến, lo lắng còn thể hiện ở sự ngập ngừng, muốn nói nhưng lại thôi “Nắm tay nhau đi rồi biết nói gì hôm nay”.

3. Kết luận

tổng quát

II. Bài văn mẫu Phân tích tính dân tộc 8 câu đầu bài thơ Việt Bắc (Chuẩn)

Tố Hữu là nhà thơ trữ tình chính trị nổi tiếng của nền thơ ca cách mạng Việt Nam. Anh thường viết về những sự kiện trọng đại của dân tộc bằng tâm hồn sôi nổi, nhiệt huyết và tình cảm tha thiết của một người lính trẻ. Vì vậy, khi viết về chính trị, thơ Tố Hữu không khô khan mà sâu lắng, tha thiết. Bên cạnh cảm hứng trữ tình, tính dân tộc cũng là một nét tiêu biểu trong thơ Tố Hữu. Việt Bắc là một trong những đỉnh cao trong sự nghiệp sáng tác của Tố Hữu, cũng là sự kết tinh tiêu biểu nhất cho tài năng và phong cách trữ tình chính trị của ông. Tính dân tộc và cảm hứng trữ tình được thể hiện rõ nét trong tám câu thơ đầu, vừa khắc họa không khí nhớ nhung, khắc khoải của cuộc chia ly, đồng thời thể hiện tình cảm tha thiết, thủy chung của nhân dân. cuộc phiêu lưu. chiến tranh với người và đất chiến khu.

Sau chiến dịch Điện Biên Phủ thành công, hiệp định Giơnevơ được ký kết. Tháng 10 năm 1954, Trung ương Đảng và các vị lão thành cách mạng rời chiến khu Việt Bắc trở về Hà Nội. Việt Bắc ra đời trong hoàn cảnh cụ thể đó, bài thơ ra đời như một lời khẳng định tình cảm thủy chung, tha thiết của người ở với người ở.

“Tôi về rồi, bạn có nhớ tôi không
Mười lăm năm đam mê
Tôi đã trở lại, bạn có nhớ không?
Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn.

Chọn thể thơ lục bát và lối đối thoại quen thuộc trong ca dao, nhà thơ Tố Hữu đã tái hiện một cách sinh động cảnh chia ly và khiến ca từ ngọt ngào, tha thiết như một lời tâm tình. “Ta – Ta” là tên thường dùng trong ca dao, ở đây dùng để chỉ người đi cách mạng (người ra đi) và chiến khu (người ở lại). Chúng ta cũng đã gặp cách gọi này trong các bài dân ca cổ như:

“Ta trở lại, ta không cho ngươi trở lại.”
Tôi nắm lấy vạt áo và viết một bài thơ ”.

Hoặc:

“Anh có nhớ khi em quay lại không?
Em về như khăn tang nhớ anh ”.

Cách sử dụng quen thuộc “me-ta” trong ca dao khiến câu thơ trở nên ngọt ngào và sâu lắng. Ngoài ra nó còn tô đậm thêm tình cảm thắm thiết, thắm thiết, thắm thiết giữa người đi và người về. Câu hỏi tu từ “Có thương, có nhớ” mở ra cảnh chia ly và cuộc trò chuyện thân mật, lưu luyến của chiến khu với những người cách mạng. Chia tay những người cách mạng trở về, nhưng lòng người ở lại trĩu nặng một nỗi niềm, đó không chỉ là sự chần chừ, không muốn mà còn là những suy tư, trăn trở về tình cảm của người ra đi. Liệu những cuộc tình “ngọt ngào” được xây đắp và vun đắp trong “mười lăm năm” đầy gian khó nhưng đầy gian khổ, tôi có còn nhớ? Và khi trở về với cuộc sống mới, những người kháng chiến có còn nhớ về những kỷ niệm đã từng có với chiến khu Việt Bắc?

Xem thêm:  Kế hoạch giáo dục nhà trường năm học – 2022 (4 mẫu)

“Khi tôi trở lại, anh có nhớ không?
Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn.

Từ “tôi” được lặp lại hai lần trong câu thơ thứ sáu tám cùng với sự xuất hiện của nhiều âm điệu bằng nhau khiến câu thơ như trùng xuống, xúc động cũng như lo lắng, da diết hơn. Từ “nhớ” được lặp lại 4 lần càng khắc sâu nỗi nhớ da diết, nỗi nhớ da diết không thể rời xa. Người ở lại đặt ra những câu hỏi tu từ như nhắc nhở người về những ân tình, những kỉ niệm gắn bó với Việt Bắc, đồng thời khẳng định tình cảm chân thành, tha thiết. Bốn câu thơ đầu tuy đơn giản như một lời đối đáp nhưng lại gợi lên những xúc cảm mạnh mẽ, đó không chỉ là sự rạo rực, xúc động trong tâm hồn người lữ khách mà còn đánh thức những rung động đẹp đẽ trong trái tim. trái tim của người đọc.

Nếu bốn câu thơ đầu là lời của người ở lại thì bốn câu thơ sau là lời đáp của người ra đi:

“Giọng ai tha thiết bên cồn
Chán trong cuộc đi bộ không ngừng nghỉ
Áo chàm chia tay
Chúng tôi nắm tay nhau, không biết nói gì hơn ”.

Không trực tiếp trả lời câu hỏi của người ở lại, Tố Hữu đã thay mặt những người cách mạng xuống đường để khẳng định lòng trung thành, gắn bó với con người và mảnh đất Việt Bắc. Bước chân anh trở nên nặng trĩu, anh không thể bước đi vì bên tai rộn rã tiếng cười, trong lòng trống trải trước tình cảm tha thiết của người dân chiến khu. “Giọng ai” ở đây là đại từ biến, có thể là tiếng của nhân vật xuất hiện trong bữa tiệc chia tay, hoặc cũng có thể là nỗi nhớ Việt Bắc nói chung. Những câu cửa miệng “khắc khoải, khắc khoải, thiết tha” đã khơi gợi nỗi nhớ da diết của người cách mạng. Nỗi nhớ như một làn sóng dồn nén trong tim nhưng cũng vô cùng mạnh mẽ trong trái tim mỗi người cách mạng.

“Màu chàm mang đến sự tách biệt”
Chúng tôi nắm tay nhau, không biết nói gì hơn ”.

Ở câu 7, 8, nhịp 3/3, 3/3/2 linh hoạt đã tái hiện thành công tâm trạng bối rối, những bước chân ngập ngừng như muốn đi mà chẳng muốn đi. Hình ảnh “áo chàm” không chỉ gợi lên màu áo quen thuộc, giản dị của người dân Việt Bắc mà còn gợi lên tình cảm thủy chung, son sắc không bao giờ phai nhạt trong lòng những người cách mạng. Nỗi nhớ và sự lo lắng còn thể hiện ở sự ngập ngừng, muốn nói nhưng lại thôi “Nắm tay nhau đi rồi biết nói gì hôm nay”, có quá nhiều điều muốn nói, muốn bày tỏ nhưng không biết ở đâu. Nhưng chỉ một cái “nắm tay” đã thay đổi tất cả những điều tôi muốn nói.

Nhà thơ Tố Hữu đã khéo léo sử dụng lối đối thoại quen thuộc trong ca dao, liên kết với giọng văn mượt mà uyển chuyển, nhà thơ không chỉ mở ra khung cảnh của một cuộc chia ly đầy hoài niệm mà còn làm sâu sắc thêm tình cảm của mỗi người. . tình cảm nồng nàn, mặn nồng giữa người ra đi và người ở lại.

–CHẤM DỨT–

https://thuthuat.taimienphi.vn/phan-tich-tinh-dan-toc-trong-8-cau-dau-bai-tho-viet-bac-66237n
Tiếp theo phần Phân tích tính dân tộc trong 8 câu đầu của bài thơ Việt Bắc, để củng cố lại kiến ​​thức về tác phẩm, các em có thể tham khảo thêm: Phân tích tình cảm của người ra đi trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu, Cảnh thiên nhiên và con người trong bài thơ Việt Bắc, Cảm nhận về bức tranh tứ bình trong bài thơ Việt BắcNhận xét về 20 dòng đầu của bài thơ Việt Bắc.

Xem thêm các bài viết hay về Câu hỏi và trả lời văn học

Bạn xem bài Phân tích tính dân tộc trong 8 câu đầu của bài thơ Việt Bắc. Bạn đã khắc phục được sự cố mà bạn phát hiện ra chưa ?, nếu chưa, hãy bình luận thêm về Phân tích tính dân tộc trong 8 câu đầu của bài thơ Việt Bắc. dưới đây để dienchau2.edu.vn có thể thay đổi & hoàn thiện nội dung tốt hơn cho bạn đọc! Cảm ơn bạn đã ghé thăm website Trường THPT Diễn Châu 2

Thể loại: Văn học
# Phân tích # số lượng # dân tộc # trong # câu đầu tiên # bài thơ # Việt #Bắc

xem thêm thông tin chi tiết về Phân tích tính dân tộc trong 8 câu đầu bài thơ Việt Bắc

Phân tích tính dân tộc trong 8 câu đầu bài thơ Việt Bắc

Hình Ảnh về: Phân tích tính dân tộc trong 8 câu đầu bài thơ Việt Bắc

Video về: Phân tích tính dân tộc trong 8 câu đầu bài thơ Việt Bắc

Wiki về Phân tích tính dân tộc trong 8 câu đầu bài thơ Việt Bắc

Phân tích tính dân tộc trong 8 câu đầu bài thơ Việt Bắc -

Bạn đang xem: Phân tích tính dân tộc trong 8 câu đầu của bài thơ Việt Bắc. Trong dienchau2.edu.vn

Mời các bạn tham khảo bài Phân tích tính dân tộc trong 8 câu đầu của bài thơ Việt Bắc để thấy được không khí chia ly, gắn bó, thủy chung của những người kháng chiến và nhân dân chiến khu.

Chủ đề: Phân tích tính dân tộc trong 8 câu đầu của bài thơ Việt Bắc.

Mục lục bài viết:
I. Đề cương cụ thể
II. Bài văn mẫu

Phân tích tính dân tộc trong 8 câu đầu của bài thơ Việt Bắc.

I. Dàn ý Phân tích tính dân tộc 8 câu đầu bài thơ Việt Bắc (Chuẩn)

1. Mở bài

Giới thiệu bài thơ Việt Bắc và 8 dòng đầu của bài thơ.

2. Cơ thể

một. Tổng quan về tình huống thông minh:
+ Sáng tác năm 1954, khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, Trung ương Đảng và các đồng chí lão thành cách mạng rời chiến khu Việt Bắc trở về Hà Nội.
+ Việt Bắc là sự khẳng định tình cảm thủy chung, thắm thiết của người cách mạng đối với nhân dân và chiến khu Việt Bắc.

b. Tính dân tộc trong 8 câu thơ đầu:

- Biểu hiện của tính dân tộc được thể hiện qua 8 câu thơ:
+ Thể loại thơ tha thiết, giàu nhạc điệu.
+ Cách đối đáp, xưng hô - Làm quen với các làn điệu dân ca.
=> Tố Hữu đã tái hiện một cách sinh động cảnh chia ly, đồng thời khiến lời ca ngọt ngào, tha thiết như một lời tâm tình.

- Bốn câu thơ đầu: Lời người ở lại.
+ “Ta - ta” là tên thường dùng trong ca dao, ở đây dùng để chỉ người đi cách mạng (người ra đi), chiến khu (người ở lại).
+ Câu hỏi tu từ “Có thương, có nhớ” mở ra cảnh chia ly và cuộc trò chuyện thân mật, nhớ nhung của chiến khu với những người cách mạng.
→ Gợi kỉ niệm, không gian cội nguồn, tình nghĩa thuỷ chung giữa người đi và người ở.
+ Từ “tôi” được lặp lại hai lần trong câu thơ lục bát cùng với sự xuất hiện của nhiều thanh điệu bằng nhau khiến câu thơ như trùng xuống, xúc động cũng như lo lắng, da diết hơn.
+ Từ “nhớ” được lặp lại 4 lần càng khắc sâu nỗi nhớ da diết, nỗi nhớ da diết không thể rời xa.
=> Người ở lại đặt câu hỏi tu từ vừa gợi cho người trở về tình nghĩa, kỉ niệm với Việt Bắc, vừa khẳng định tình cảm chân thành, tha thiết.

- Bốn câu thơ sau: Lời thú tội của người ra đi
+ “Giọng ai” ở đây là đại từ biến, có thể là tiếng của nhân vật xuất hiện trong bữa tiệc chia tay, hoặc cũng có thể là tiếng nhớ Việt Bắc nói chung.
+ Các từ “bùi ngùi, xao xuyến, háo hức” đã chạm đến cảm xúc nhớ nhung của người cách mạng.
→ Nỗi nhớ như một làn sóng dồn nén nhưng cũng vô cùng mãnh liệt trong lòng mỗi người cách mạng.
+ Ở câu 7, 8, nhịp thơ thay đổi linh hoạt 3/3, 3/3/2 gợi tâm trạng bối rối, những bước chân ngập ngừng như muốn đi mà chẳng muốn đi.
+ Hình ảnh “áo chàm” không chỉ gợi màu áo quen thuộc, giản dị mà còn gợi tình cảm thủy chung, son sắc không bao giờ phai nhạt trong lòng những người cách mạng.
+ Sự lưu luyến, lo lắng còn thể hiện ở sự ngập ngừng, muốn nói nhưng lại thôi “Nắm tay nhau đi rồi biết nói gì hôm nay”.

3. Kết luận

tổng quát

II. Bài văn mẫu Phân tích tính dân tộc 8 câu đầu bài thơ Việt Bắc (Chuẩn)

Tố Hữu là nhà thơ trữ tình chính trị nổi tiếng của nền thơ ca cách mạng Việt Nam. Anh thường viết về những sự kiện trọng đại của dân tộc bằng tâm hồn sôi nổi, nhiệt huyết và tình cảm tha thiết của một người lính trẻ. Vì vậy, khi viết về chính trị, thơ Tố Hữu không khô khan mà sâu lắng, tha thiết. Bên cạnh cảm hứng trữ tình, tính dân tộc cũng là một nét tiêu biểu trong thơ Tố Hữu. Việt Bắc là một trong những đỉnh cao trong sự nghiệp sáng tác của Tố Hữu, cũng là sự kết tinh tiêu biểu nhất cho tài năng và phong cách trữ tình chính trị của ông. Tính dân tộc và cảm hứng trữ tình được thể hiện rõ nét trong tám câu thơ đầu, vừa khắc họa không khí nhớ nhung, khắc khoải của cuộc chia ly, đồng thời thể hiện tình cảm tha thiết, thủy chung của nhân dân. cuộc phiêu lưu. chiến tranh với người và đất chiến khu.

Sau chiến dịch Điện Biên Phủ thành công, hiệp định Giơnevơ được ký kết. Tháng 10 năm 1954, Trung ương Đảng và các vị lão thành cách mạng rời chiến khu Việt Bắc trở về Hà Nội. Việt Bắc ra đời trong hoàn cảnh cụ thể đó, bài thơ ra đời như một lời khẳng định tình cảm thủy chung, tha thiết của người ở với người ở.

“Tôi về rồi, bạn có nhớ tôi không
Mười lăm năm đam mê
Tôi đã trở lại, bạn có nhớ không?
Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn.

Chọn thể thơ lục bát và lối đối thoại quen thuộc trong ca dao, nhà thơ Tố Hữu đã tái hiện một cách sinh động cảnh chia ly và khiến ca từ ngọt ngào, tha thiết như một lời tâm tình. “Ta - Ta” là tên thường dùng trong ca dao, ở đây dùng để chỉ người đi cách mạng (người ra đi) và chiến khu (người ở lại). Chúng ta cũng đã gặp cách gọi này trong các bài dân ca cổ như:

"Ta trở lại, ta không cho ngươi trở lại."
Tôi nắm lấy vạt áo và viết một bài thơ ”.

Hoặc:

“Anh có nhớ khi em quay lại không?
Em về như khăn tang nhớ anh ”.

Cách sử dụng quen thuộc “me-ta” trong ca dao khiến câu thơ trở nên ngọt ngào và sâu lắng. Ngoài ra nó còn tô đậm thêm tình cảm thắm thiết, thắm thiết, thắm thiết giữa người đi và người về. Câu hỏi tu từ “Có thương, có nhớ” mở ra cảnh chia ly và cuộc trò chuyện thân mật, lưu luyến của chiến khu với những người cách mạng. Chia tay những người cách mạng trở về, nhưng lòng người ở lại trĩu nặng một nỗi niềm, đó không chỉ là sự chần chừ, không muốn mà còn là những suy tư, trăn trở về tình cảm của người ra đi. Liệu những cuộc tình “ngọt ngào” được xây đắp và vun đắp trong “mười lăm năm” đầy gian khó nhưng đầy gian khổ, tôi có còn nhớ? Và khi trở về với cuộc sống mới, những người kháng chiến có còn nhớ về những kỷ niệm đã từng có với chiến khu Việt Bắc?

“Khi tôi trở lại, anh có nhớ không?
Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn.

Từ “tôi” được lặp lại hai lần trong câu thơ thứ sáu tám cùng với sự xuất hiện của nhiều âm điệu bằng nhau khiến câu thơ như trùng xuống, xúc động cũng như lo lắng, da diết hơn. Từ “nhớ” được lặp lại 4 lần càng khắc sâu nỗi nhớ da diết, nỗi nhớ da diết không thể rời xa. Người ở lại đặt ra những câu hỏi tu từ như nhắc nhở người về những ân tình, những kỉ niệm gắn bó với Việt Bắc, đồng thời khẳng định tình cảm chân thành, tha thiết. Bốn câu thơ đầu tuy đơn giản như một lời đối đáp nhưng lại gợi lên những xúc cảm mạnh mẽ, đó không chỉ là sự rạo rực, xúc động trong tâm hồn người lữ khách mà còn đánh thức những rung động đẹp đẽ trong trái tim. trái tim của người đọc.

Nếu bốn câu thơ đầu là lời của người ở lại thì bốn câu thơ sau là lời đáp của người ra đi:

“Giọng ai tha thiết bên cồn
Chán trong cuộc đi bộ không ngừng nghỉ
Áo chàm chia tay
Chúng tôi nắm tay nhau, không biết nói gì hơn ”.

Không trực tiếp trả lời câu hỏi của người ở lại, Tố Hữu đã thay mặt những người cách mạng xuống đường để khẳng định lòng trung thành, gắn bó với con người và mảnh đất Việt Bắc. Bước chân anh trở nên nặng trĩu, anh không thể bước đi vì bên tai rộn rã tiếng cười, trong lòng trống trải trước tình cảm tha thiết của người dân chiến khu. “Giọng ai” ở đây là đại từ biến, có thể là tiếng của nhân vật xuất hiện trong bữa tiệc chia tay, hoặc cũng có thể là nỗi nhớ Việt Bắc nói chung. Những câu cửa miệng “khắc khoải, khắc khoải, thiết tha” đã khơi gợi nỗi nhớ da diết của người cách mạng. Nỗi nhớ như một làn sóng dồn nén trong tim nhưng cũng vô cùng mạnh mẽ trong trái tim mỗi người cách mạng.

"Màu chàm mang đến sự tách biệt"
Chúng tôi nắm tay nhau, không biết nói gì hơn ”.

Ở câu 7, 8, nhịp 3/3, 3/3/2 linh hoạt đã tái hiện thành công tâm trạng bối rối, những bước chân ngập ngừng như muốn đi mà chẳng muốn đi. Hình ảnh “áo chàm” không chỉ gợi lên màu áo quen thuộc, giản dị của người dân Việt Bắc mà còn gợi lên tình cảm thủy chung, son sắc không bao giờ phai nhạt trong lòng những người cách mạng. Nỗi nhớ và sự lo lắng còn thể hiện ở sự ngập ngừng, muốn nói nhưng lại thôi “Nắm tay nhau đi rồi biết nói gì hôm nay”, có quá nhiều điều muốn nói, muốn bày tỏ nhưng không biết ở đâu. Nhưng chỉ một cái “nắm tay” đã thay đổi tất cả những điều tôi muốn nói.

Nhà thơ Tố Hữu đã khéo léo sử dụng lối đối thoại quen thuộc trong ca dao, liên kết với giọng văn mượt mà uyển chuyển, nhà thơ không chỉ mở ra khung cảnh của một cuộc chia ly đầy hoài niệm mà còn làm sâu sắc thêm tình cảm của mỗi người. . tình cảm nồng nàn, mặn nồng giữa người ra đi và người ở lại.

--CHẤM DỨT--

https://thuthuat.taimienphi.vn/phan-tich-tinh-dan-toc-trong-8-cau-dau-bai-tho-viet-bac-66237n
Tiếp theo phần Phân tích tính dân tộc trong 8 câu đầu của bài thơ Việt Bắc, để củng cố lại kiến ​​thức về tác phẩm, các em có thể tham khảo thêm: Phân tích tình cảm của người ra đi trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu, Cảnh thiên nhiên và con người trong bài thơ Việt Bắc, Cảm nhận về bức tranh tứ bình trong bài thơ Việt BắcNhận xét về 20 dòng đầu của bài thơ Việt Bắc.

Xem thêm các bài viết hay về Câu hỏi và trả lời văn học

Bạn xem bài Phân tích tính dân tộc trong 8 câu đầu của bài thơ Việt Bắc. Bạn đã khắc phục được sự cố mà bạn phát hiện ra chưa ?, nếu chưa, hãy bình luận thêm về Phân tích tính dân tộc trong 8 câu đầu của bài thơ Việt Bắc. dưới đây để dienchau2.edu.vn có thể thay đổi & hoàn thiện nội dung tốt hơn cho bạn đọc! Cảm ơn bạn đã ghé thăm website Trường THPT Diễn Châu 2

Thể loại: Văn học
# Phân tích # số lượng # dân tộc # trong # câu đầu tiên # bài thơ # Việt #Bắc

[rule_{ruleNumber}]

#Phân #tích #tính #dân #tộc #trong #câu #đầu #bài #thơ #Việt #Bắc

Bạn thấy bài viết Phân tích tính dân tộc trong 8 câu đầu bài thơ Việt Bắc có giải quyết đươc vấn đề bạn tìm hiểu không?, nếu  không hãy comment góp ý thêm về Phân tích tính dân tộc trong 8 câu đầu bài thơ Việt Bắc bên dưới để dienchau2.edu.vn có thể chỉnh sửa & cải thiện nội dung tốt hơn cho độc giả nhé! Cám ơn bạn đã ghé thăm Website Trường THPT Diễn Châu 2

Nhớ để nguồn: Phân tích tính dân tộc trong 8 câu đầu bài thơ Việt Bắc tại Kiến thức chung

THPT Diễn Châu 2

THPT Diễn Châu 2 – Nghệ An được thành lập vào năm 1965. Trường được tách từ Trường cấp 3 Diễn Châu 1 thành THPT Diễn Châu 2 và THPT Nguyễn Xuân Ôn. Ngôi trường THPT Diễn Châu 2 – Nghệ An mang nhiệm vụ đào tạo các thế hệ học sinh của vùng Trung, Bắc Diễn Châu và một số xã của huyện Yên Thành như: Đô Thành, Đức Thành, Thọ Thành.

Những bài viết liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button