Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến(hay nhất)

Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến

(hay nhất)

Hình Ảnh về: Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến

(hay nhất)

Video về: Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến

(hay nhất)

Wiki về Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến

(hay nhất)

Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến

(hay nhất) –

Tuyển chọn những bài văn hay chủ đề phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng. Các bài văn mẫu được tổng hợp từ các bài viết hay, xuất sắc của các bạn học trò trên cả nước. Mời các em cùng tham khảo nhé!

Dàn ý Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến

1. Mở bài

– Giới thiệu sơ lược về tác giả, tác phẩm

+ Quang Dũng thuộc thế hệ các thi sĩ miền Bắc trưởng thành và nổi danh sau Cách mệnh tháng Tám.

+ Bài thơ Tây Tiến được viết vào năm 1948 ở Phù Lưu Chanh (Hà Tây), lúc Quang Dũng đã chuyển về đơn vị khác và nhớ về đơn vị cũ là đoàn quân Tây Tiến.

– Nói chung 8 câu thơ đầu: đoạn thơ dựng lại tuyến đường hành quân giữa núi rừng Tây Bắc hiểm trở, khắc nghiệt, hùng vĩ và thơ mộng.

2. Thân bài

* Nỗi nhớ về núi rừng Tây Bắc và đơn vị tranh đấu cũ (hai câu đầu)

– Nỗi nhớ là xúc cảm chủ đạo xuyên suốt bài thơ, đoạn thơ.

– Nỗi nhớ đấy như dâng trào ko gì có thể kiểm soát được nên đã cất lên thành tiếng gọi:

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”

+ Từ láy “chơi vơi”: gợi hình, gợi cảm => nỗi nhớ da diết, cháy bỏng như có hình, có khối gợi lên một ko gian rộng lớn, thời kì sâu thẳm.

– Hình ảnh núi rừng trùng điệp, hoang vu và tuyến đường hành quân khó khăn của người lính

   + Hình ảnh dốc, đèo, vực thẳm, rừng dày và tuyến đường hành quân cheo leo dần xuất hiện

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi

   + Những địa danh: Sài Khao, Mường Lát gợi lên ko gian hoang vu nơi xứ lạ

   + Cảm giác mỏi mệt của người lính như được xua đi bởi hình ảnh đầy thơ mộng trong đêm của Mường Lát.

   + Câu thơ “Mường Lát hoa về trong đêm hơi” : tạo ra nhiều nét nghĩa không giống nhau, trong đó có thể hiểu đây là cách tả cảnh đoàn quân đốt đuốc đi trong đêm mịt mù hơi sương trông như những bông hoa.

   + Thanh bằng: gợi cảm giác lâng lâng, chơi vơi, tài hoa và lãng mạn. Quang cảnh núi rừng hiểm trở.

* Trục đường hành quân khó khăn của người lính:

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thăm

Hẻo lánh cồn mây súng ngửi trời

Nghìn thước lên cao, nghìn thước xuống

Nhà người nào Pha Luông mưa xa khơi

– Hai câu đầu: diễn tả độ cao vút trời vào sự cheo leo hẻo lánh của núi đèo Tây Bắc.

    + Từ láy tạo hình: “khúc khuỷu”, “thăm thẳm”, “hẻo lánh”… được sử dụng với mật độ cao

    + Thủ pháp điệp từ, đối lập được khai thác triệt để

  • “Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm” : nghe như tiếng thở nặng nhọc của người lính.    

  • “súng ngửi trời” : trình bày tâm hồn sáng sủa yêu đời, thử thách với khó khăn, nguy hiểm của người lính.

– Hai câu sau:

    + Câu thứ ba có sự ngắt nhịp ở giữa như bẻ đôi => diễn tả hai sườn núi vút lên, đổ xuống gần như thẳng đứng

    + Câu thơ thứ tư toàn thanh bằng => tạo cảm giác lâng lâng, chơi vơi

=> Tây Bắc dữ dội, hoang vu được mở rộng ra theo chiều ko gian: theo những địa danh xứ lạ như Sài Khao, Mường Lát…

3. Kết bài

– Nói chung lại trị giá nội dung và nghệ thuật của 8 câu thơ đầu: Hình ảnh núi rừng Tây Bắc hùng vĩ, đầy nguy hiểm nhưng cũng rất nên thơ. Hình ảnh đoàn quân trên đường hành quân mang vẻ đẹp bi tráng.

– Gợi mở thêm vấn đề.

Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến – Bài mẫu 1

         Quang Dũng là một trong những thi sĩ chiến sĩ tiêu biểu của thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Ông đặc thù thành công lúc viết về đề tài người lính trí thức tiểu tư sản hào hoa, phong nhã. Một trong những bài thơ nổi tiếng viết về người lính là bài thơ Tây Tiến.

          Cảm hứng chủ đạo trong suốt bài thơ là cảm hứng về nỗi nhớ. Đó là nỗi nhớ khó phai của đời người lính Tây Tiến được khắc hoạ thành công ở tám câu đầu của bài thơ

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi

Nhà người nào Pha Luông mưa xa khơi”

         Tây Tiến là 1 trong những bài thơ hay, tiêu biểu của Quang Dũng. Nhắc tới thi sĩ, ko người nào ko thể ko nhớ tới Tây Tiến. Bài thơ được sáng tác cuối năm 1948 lúc thi sĩ đóng quân ở Phù Lưu Chanh – 1 làng ven bờ sông Đáy, nhớ về đơn vị cũ ông đã viết nên bài thơ. Lúc đầu, ông đặt bài thơ là Nhớ Tây Tiến nhưng về sau đổi lại thành Tây Tiến vì thi sĩ cho rằng chỉ với 2 từ Tây Tiến cũng đủ đã gợi lên nỗi nhớ là cảm hứng chủ đạo chứ ko cần tới từ “nhớ”

          Là 1 người lính trẻ hào hoa, lãng mạn ra đi theo tiếng gọi của tổ quốc, sống và tranh đấu nơi núi rừng khó khăn nhưng chất thi sĩ vẫn trào dâng mãnh liệt trong lòng thi sĩ. 1 thời gắn bó sâu đậm với Tây Tiến, với đồng chí, với núi rừng đã làm cho ông ko khỏi bổi hổi, xúc động lúc nỗi nhớ về Tây Tiến dâng trào trong kí ức của thi sĩ.

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi”

         Câu thơ như tiếng gọi thành tâm, tha thiết xuất phát từ trái tim và tâm hồn người thi sĩ. Bằng cách sử dụng câu cảm thán mở đầu bài thơ, Quang Dũng đã gọi tên cảm hứng chủ đạo của bài thơ là nỗi nhớ cồn cào, da diết về núi rừng Tây Bắc. bằng thủ pháp nghệ thuật nhân hoá, câu thơ trở thành đẹp diệu kỳ. “Sông Mã” ko thuần tuý là 1 con sông nhưng nó đã trở thành 1 hình ảnh hiện hữu, 1 chứng nhân lịch sử trong suốt cuộc đời người lính Tây Tiến với bao nỗi vui buồn, được mất. “Tây Tiến” ko chỉ để gọi tên 1 đơn vị quân nhân nhưng nó đã trở thành 1 người bạn ” tri kỉ tri kỷ” để thi sĩ thổ lộ tâm tình

“Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”

         Câu thơ thứ 2 với điệp từ “nhớ” được lặp lại 2 lần đã diễn tả nỗi nhớ quay quắt, cồn cào đang ùa vào tâm trí Quang Dũng. tính từ “chơi vơi” liên kết với từ “nhớ” đã khắc sâu được tình cảm nhớ nhung da diết của thi sĩ và nỗi nhớ đó như 1 cơn thác lũ tràn vào tâm trí thi sĩ đã đẩy ông vào trạng thái bồng bềnh, hư ảo. 2 câu đầu với cách dùng từ tuyển lựa, gợi hình gợi cảm đã mở cửa cho nỗi nhớ trào dâng mãnh liệt trong tâm hồn thi sĩ

“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Hẻo lánh cồn mây súng ngửi trời”

          Quang Dũng đã liệt kê hàng loạt các địa danh như: Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông… Đó là địa bàn hoạt động của binh đoàn Tây Tiến, những nơi họ đi qua và ngừng chân trên bước đường hành quân khó khăn, nhọc nhằn. Nói tới Tây Bắc, là nói tới vùng đất có địa hình hiểm trở, khí hậu khắc nghiệt. Có những đêm dài hành quân người lính Tây Tiến vất vả đi trong đêm dày đặc sương giăng, ko nhìn rõ mặt nhau. “Đoàn quân mỏi” nhưng ý thức ko “mỏi”. Bởi ý chí quyết tâm ra đi vì tổ quốc đã làm cho những trí thức Hà thành yêu nước trở thành kiên cường, quật cường hơn. Quang Dũng đã rất tài tình lúc đưa hình ảnh “sương” vào đây để khắc hoạ hơn sự khắc nghiệt của núi rừng Tây Bắc trong những đêm dài lạnh lẽo. Cũng mô tả về “sương”, Chế Lan Viên cũng đã viết trong “Tiếng hát con tàu”:

“Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ

Nơi nao qua lòng lại chẳng mến thương

Lúc ta ở chỉ là nơi đất ở

Lúc ta đi đất đã hoá tâm hồn”

         Có nhẽ tự nhiên rất gắn bó với người lính Tây Bắc nên nó đã trở thành 1 kí ức khó phai trong lòng thi sĩ. Tự nhiên tuy có đẹp nhưng cũng rất hiểm trở. Có những lúc người lính Tây Tiến phải vất vả để trèo lên đỉnh chạm tới mây trời. Quang Dũng đã khôn khéo sử dụng từ “thăm thẳm” nhưng ko dùng từ chót vót” bởi nói “chót vót” người ta còn có thể cảm nhận và thấy được bề sâu của nó nhưng “thăm thẳm” thì khó có người nào có thể tưởng tượng được nó sâu thế nào. Bằng những từ láy gợi hình ảnh rất cao như “khúc khuỷu”, “thăm thẳm”, “hẻo lánh”, thi sĩ đã làm cho người đọc cảm thu được cái hoang vu, dữ dội của núi rừng Tây Bắc. Thi sĩ cũng rất trẻ trung, tinh nghịch lúc đưa hình ảnh nhân hóa, ẩn dụ ” súng ngửi trời” để cho ta thấy kế bên tự nhiên hiểm trở còn hiện lên hình ảnh người lính với tư thế uy phong lẫm liệt nơi núi rừng hoang vu. Câu thơ sử dụng nhiều thanh trắc đã tạo nên vẻ gân guốc, nhọc nhằn đã nhấn mạnh được cảnh quang tự nhiên Tây Bắc thật cheo leo, hiểm trở

“Nghìn thước lên cao nghìn thước xuống”

         Điệp từ “nghìn thước” đã mở ra 1 ko gian nhìn từ trên xuống cũng như từ dưới lên thật hùng vĩ, giăng mắc. Kế bên cái hiểm trở, hoang vu ta cũng thấy được vẻ đẹp trữ tình nơi núi rừng:

“Nhà người nào Pha Luông mưa xa khơi”

         Có những cơn mưa rừng chợt tới đã để lại bao giá rét cho người lính Tây Tiến. Nhưng dưới ngòi bút của Quang Dũng, nó trở thành lãng mạn, trữ tình hơn. Thi sĩ đã thông minh, thông minh lúc nói tới mưa rừng bằng cụm từ “mưa xa khơi”. Nó gợi lên 1 cái gì đó rất kỳ bí, hoang vu giữa chốn núi rừng. Câu thơ thứ 8 nhiều thanh bằng như làm dịu đi vẻ dữ dội, hiểm trở của núi rừng và mở ra 1 bức tranh tự nhiên nơi núi rừng đầy lãng mạn. 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến là nỗi nhớ về núi rừng Tây Bắc, về đồng chí Tây Tiến nhưng qua những cụ thể đặc tả về tự nhiên núi rừng Tây Bắc, nó đã trở thành 1 kí ức xa xôi trong tâm trí thi sĩ. Đó là 1 nỗi nhớ mãnh liệt của người lính Tây Tiến nói riêng và của những người lính nói chung.

         Bài thơ “Tây Tiến” dưới ngòi bút của lãng mạn, trữ tình của Quang Dũng đã trở thành 1 tuyệt bút của mọi thời đại. Cảm hứng chủ đạo xuyên suốt bài thơ đó là cảm hứng về nỗi nhớ. Quang Dũng đã mô tả nỗi nhớ đó bằng ngòi bút tài tình giàu chất nhạc, chất họa và đậm chất thơ. Bài thơ là 1 khúc nhạc của tâm hồn, của cuộc sống. Cho nên, Xuân Diện thật chuẩn xác lúc cho rằng đọc bài thơ “Tây Tiến” như đang ngậm âm nhạc trong mồm. Bài thơ hay bởi lẽ nó được viết nên từ ngòi bút hào hoa, lãng mạn và của 1 người lính Tây Tiến nên nó có 1 cái rất riêng và đẹp. Mang chất lính nên Quang Dũng mới có thể viết nên những vần thơ hay như thế.

          “Tây Tiến” là 1 bài thơ hay được viết nên bởi tâm hồn, tài hoa, lãng mạn của người lính trí thức tiểu tư sản Quang Dũng. Bài thơ như 1 bức tượng đài bất tử đã tạc vào nền văn học Việt Nam hình ảnh những người lính trí thức yêu nước vô danh. Bài thơ xứng đáng được xem là tuyệt bút của Quang Dũng lúc viết về người lính trí thức tiểu tư sản hào hoa, phong nhã.

Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến – Bài mẫu 2

         Trong dòng chảy thi ca Việt Nam, thơ ca cách mệnh là một thời kì để lại được nhiều dấu ấn với những thi phẩm rực rỡ như Lên Tây Bắc, Tung hô chiến sĩ Điện Biên, Việt Bắc (Tố Hữu), Đồng chí (Chính Hữu), Quốc gia (Nguyễn Đình Thi),… Nhưng bài thơ được coi là “đứa con đầu lòng hào hoa và tráng kiện của thơ ca kháng chiến chống Pháp” chính là Tây Tiến của Quang Dũng. Bài thơ ko chỉ tái tạo lại những tháng năm kháng chiến của đoàn quân Tây Tiến nhưng còn khắc họa được bức tranh tự nhiên Tây Bắc vừa hùng vĩ nhưng lại vừa lãng mạn nên thơ. 8 câu thơ trước hết đã gây ấn tượng mạnh mẽ với độc giả về hình ảnh tự nhiên núi rừng Tây Bắc.

           Bài thơ Tây Tiến được sáng tác năm 1948 tại Phù Lưu Chanh, đơn vị nhưng Quang Dũng chuyển công việc tới sau lúc kết thúc quãng thời kì một năm gắn bó cùng sát cánh, kề vai với đồng chí của quân đoàn Tây Tiến. Trong nỗi nhớ khôn nguôi về đồng chí và núi rừng Tây Bắc, thi sĩ đã ko kìm được lòng mình, để tiếng nói của trái tim cất lên thành trang thơ. 8 câu thơ trước hết như một thước phim sống động tái tạo lại cảnh tự nhiên Tây Bắc hùng vĩ và hiểm trở khôn xiết.

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”

          Hình ảnh con sông Mã hiện lên là một hình ảnh gắn liền với địa bàn hoạt động của đoàn quân Tây Tiến, là chứng nhân của một thời dậy vang, máu lửa. Tiếng gọi “Tây Tiến ơi” thân yêu, da diết như tiếng gọi một người bạn hữu đã lâu ngày xa cách. Điệp từ “nhớ” trong một câu toàn thanh bằng nhưng một nốt nhấn cao độ trong bản nhạc trầm, nỗi nhớ dường như luôn túc trực trong lòng thi sĩ bỗng trào dâng, lên tiếng. Hai câu thơ gieo vần “ơi” liên kết với tính từ “chơi vơi” vang lên, làm cho lòng ta cũng bỗng dưng lâng lâng, lửng lơ song lại ắp đầy, tuy nhẹ nhưng lại lắng sâu. Có nhẽ chính bởi vậy, cho dù thi sĩ đã bỏ đi một chữ “nhớ” trong tiêu đề lúc đầu của tác phẩm (“Nhớ Tây Tiến”) thì xúc cảm cũng vẫn ko thôi dào dạt. Nỗi nhớ trào dâng dường như thấm đẫm trong cảnh vật trên đường hành quân, trong những kỉ niệm của một thời kháng chiến. Tất cả một vùng ký ức sống lại, nồng nàn và thân yêu, thiết tha và trọn vẹn tựa như một thước phim quay chậm, rồi từng nét cảnh núi rừng hiện lên trong bao ngày gian lao, từng khoảnh khắc gian nan bên đồng chí anh em, từng dáng hình của người sơn nữ dáng duyên, và cả hơi cơm thanh đạm nhưng ấm nồng tình quân dân cá nước,… cứ thế nhưng hiện lên đong đầy.

         Tiếp nối hai câu thơ khắc hoạ nỗi nhớ, quang cảnh tự nhiên Tây Bắc khởi đầu xuất hiện, trước hết là những địa danh, những địa bàn hoạt động nhưng đội quân đã từng một thời gắn bó.

“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi”

         “Sài Khao”, “Mường Lát” là tên của những bản núi mù sương, nghe tuy xa lạ, nhưng lại là những cái tên đã đồng hành cùng người lính Tây Tiến suốt những tháng năm kháng chiến. Hai câu thơ như gợi nhắc tới một nơi xa xôi bí mật nào đó và cũng chính sự bí mật đấy lại quyến rũ vô cùng. “Sương lấp đoàn quân mỏi” là cụ thể tả thực khắc họa những trắc trở gian nan nhưng người lính Tây Tiến gặp phải trên tuyến đường hành quân. Tự nhiên núi rừng miền cao ẩn chứa biết bao những thử thách gian nan là thế nhưng vẫn có ở đâu đây những nét đẹp thơ mộng. Thi sĩ sử dụng hai từ “đêm hơi” chứ ko phải “đêm sương”, là một đêm mờ hơi sương, đêm của hơi núi rừng, hay là một đêm nhẹ như hơi thở. Hai chữ “đêm hơi” gợi nhiều hơn tả, nó như phác lên trong tâm trí của người đọc những nét vẽ thật mơ hồ, ảo diệu, dường như lại chẳng nhìn thấy nhưng chỉ có thể cảm nhận. Trong ko gian kì ảo nên thơ, hình ảnh “hoa về” như điểm nhấn cho cảm hứng lãng mạn. “Hoa” là những bông hoa trên tay trên vai trên áo trên mũ người lính trên đường hành quân, là hoa lửa hoa đuốc sáng soi dẫn đường trong đêm tối, hay phải chăng “hoa” lại chính là người con gái người thôn nữ miền sơn cước đi về trong miền nhớ, miền thương thẳm sâu trong tâm hồn người chiến sĩ.

          Nói tới Tây Bắc, ta ko thể ko nghĩ tới tự nhiên hùng vĩ, có phần hiểm trở. Những núi cao, dốc thẳm luôn là những trở ngại trên tuyến đường hành quân của những người lính trẻ.

“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Hẻo lánh cồn mây súng ngửi trời

Nghìn thước lên cao nghìn thước xuống”

         Điệp từ “dốc”, “nghìn thước” liên kết với các giàu tính gợi hình ” khúc khuỷu”, “thăm thẳm”, “hẻo lánh” và thủ pháp tương phản đối lập “lên – xuống”, đối xứng giữa hai tiểu vế đã khắc hoạ quang cảnh tự nhiên trùng điệp, núi tiếp núi, đèo nối đèo, lên cao chót vót rồi bỗng dưng lại dốc xuống tận cùng như muốn thử thách lòng gan góc và ý chí kiên cường của người lính Tây Tiến. Trong giờ phút gian lao đấy, hình ảnh “súng ngửi trời” hiện lên thật thi vị. Đây quả là một cái nhìn hóm hỉnh, thú vị của người chiến sĩ, nó như phá tan đi cái nhọc nhằn của quãng đường hành quân đầy gian lao. Trong bài thơ “Đồng chí”, Chính Hữu cũng đã từng ghi lại hình ảnh “đầu súng trăng treo”. Đây đều là những hình ảnh tả thực, lúc những người lính hành quân, họ luôn vác súng trên vai, đầu súng hướng lên, ở một góc độ nào đó, như thể súng đang chạm tới trời, như đang treo mảnh trăng sáng của đêm rừng canh gác. Chính qua những hình ảnh đó, nhưng ta như nhìn vào được tâm hồn của họ, họ cũng mang một trái tim trẻ trung, cũng thơ mộng chứ ko hề chai sạn giữa những gian nan thử thách nơi chiến trường gay cấn, khốc liệt. Và dường như, lúc đã vượt qua hết những chặng gian lao, người lính như thở phào nhẹ nhõm, đứng nơi đỉnh cao, phóng tầm mắt ra xa

“Nhà người nào Pha Luông mưa xa khơi”

         Sau 3 câu thơ liên tục đặc tả cảnh tự nhiên hùng vĩ hiểm trở, thi sĩ sử dụng một câu thơ toàn vần bằng gợi lên quang cảnh yên bình, thơ mộng. Thì ra, Tây Bắc ngoài những đèo cao dốc thẳm cũng có những góc lãng mạn, nên thơ tới thế, nhưng có nhẽ, chỉ có người nào đã từng gắn bó thân thuộc với nơi đây mới có thể khám phá nên nhưng thôi.

         Bằng sự hiểu biết thâm thúy là ngòi bút hào hoa phóng khoáng, Quang Dũng đã khắc họa hình ảnh tự nhiên Tây Tiến thật hùng vĩ nhưng cũng rất đỗi nên thơ. Đoạn thơ đã góp một phần ko nhỏ vào thành công của tác phẩm nói riêng và văn thơ cách mệnh nói chung, để Tây Tiến trở thành một bông hoa mãi tươi xanh trong dòng chảy của thời kì.

Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến – Bài mẫu 3

Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến | 900 bài Văn mẫu 12 hay nhất (ảnh 3)

         Tám câu thơ đầu đã vẽ nên bức tranh tự nhiên Tây Bắc hùng vĩ, dữ dội, đồng thời đó cũng là thử thách nguy hiểm trên chặng đường hành quân của binh đoàn Tây Tiến.

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”

         Nỗi thương nhớ ko chỉ còn là những rung động trong tâm tưởng nhưng đã ngân vang nhẹ nhõm, tha thiết, trải rộng ra ko gian, thời kì. Hình ảnh trước hết gợi về trong tâm trí thi sĩ là hình ảnh sông Mã- dòng sông rộng dài, hùng vĩ gắn liền với Tây Tiến. Nhớ về tự nhiên hùng vĩ, tráng lệ cũng là lúc nỗi nhớ về đồng đội- những người kề vai sát cánh năm xưa trỗi dậy. Sâu thăm trong 3 tiếng “Tây Tiến ơi” còn là tiếng gọi một người bạn, một người thân, một người tri kỷ, gọi về cả một sự gắn bó quân dân thắm thiết. Nhưng giờ đây, cả sông Mã và Tây Tiến đều đã “xa rồi”, đó là hiện thực mất mát phải đương đầu. Nhưng cũng vì xa rồi nên mới hoài niệm, mới da diết, thương nhớ tới thế. Đối với Quang Dũng, mỗi tên gọi là một phần kí ức – nơi cất giấu quãng tâm hồn mình, là địa chỉ tìm về của nỗi nhớ. Nỗi “nhớ chơi vơi”- một thông minh ngôn từ lạ mắt của riêng Quang Dũng. Với thi sĩ, nhớ Tây Tiến ko dữ dội, cuộn lòng nhưng cứ mênh mang, tha thiết, ám ảnh dư vang. Nhưng giờ đây tất cả chỉ là kỉ niệm vì “Sông Mã xa rồi”- đó là sự ý thức của nhân vật trữ tình về hiện thực phũ phàng, khắc nghiệt, Nhưng càng xa càng nhớ, nỗi nhớ cứ đong đầy, đọng lại bao dư ba. Nỗi nhớ mỗi lúc một hiện rõ qua nỗi nhớ của thi sĩ.

“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Hẻo lánh cồn mây, súng ngửi trời

Nghìn thước lên cao, nghìn thước xuống

Nhà người nào Pha Luông mưa xa khơi”

         Đoạn thơ hiện lên một loạt những địa danh. Sài Khao, Pha Luông hay Mường Hịch đều là những cái tên xa lạ mới mẻ với những chàng trai Hà thành. Vậy nhưng bước vào cuộc kháng chiến,ko một tẹo e ngại, ko một tẹo sợ sệt, họ vẫn ngày ngày hành quân trên những cung đường xa lạ đấy, dưới màn sương giăng trắng trời, lạnh lẽo cản trở tầm nhìn. Quang Dũng tái tạo cung đường Tây Bắc qua hệ thống từ láy rực rỡ “hẻo lánh, khúc khuỷu, thăm thẳm”. Mọi nguy hại, hiểm trở đều hiện lên sắc nét qua từng câu, từng chữ. Đó là cái lồi lõm, trắc trở của dốc thẳng, là cái chót vót của đèo cao và sự tun hút của những vực sâu vô tận. Tất cả đã góp phần hiện lên cái hùng vĩ, dữ dội nhưng cũng tràn đầy nguy hiểm của tự nhiên Tây Bắc. Nhưng những trắc trở đấy ko khiến họ chùn bước. Ở đoạn thơ, ta vẫn bắt gặp chút phảng phất của một tâm hồn lãng mạn, hào hoa. Trong những đêm hành quân khó khăn, họ vẫn nghĩ về hoa, về những mái nhà, từ đó thấy được tâm hồn trẻ trung, sáng sủa, ko đầu hàng trước khó khăn của những người lính.

…/…

Từ dàn ý Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến nhưng Top loigiai đã hướng dẫn trên đây, các em hãy vận dụng tri thức đã học, liên kết với cách hành văn của mình để làm thành một bài viết hoàn chỉnh nhé. Ngoài ra, chúng tôi thường xuyên cập nhật những bài văn mẫu lớp 12 hay nhất phục vụ việc học văn của các em. Chúc các em luôn học vui và học tốt!

Đăng bởi: Trường THPT Diễn Châu 2

Phân mục: Lớp 12, Ngữ Văn 12

[rule_{ruleNumber}]

#Phân #tích #câu #thơ #đầu #của #bài #thơ #Tây #Tiến #hay #nhất

[rule_3_plain]

#Phân #tích #câu #thơ #đầu #của #bài #thơ #Tây #Tiến #hay #nhất

Tuyển chọn những bài văn hay chủ đề phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng. Các bài văn mẫu được tổng hợp từ các bài viết hay, xuất sắc của các bạn học trò trên cả nước. Mời các em cùng tham khảo nhé!
Xem nhanh nội dung1 Dàn ý Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến2 Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến – Bài mẫu 13 Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến – Bài mẫu 24 Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến – Bài mẫu 3
Dàn ý Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến

1. Mở bài
– Giới thiệu sơ lược về tác giả, tác phẩm
+ Quang Dũng thuộc thế hệ các thi sĩ miền Bắc trưởng thành và nổi danh sau Cách mệnh tháng Tám.
+ Bài thơ Tây Tiến được viết vào năm 1948 ở Phù Lưu Chanh (Hà Tây), lúc Quang Dũng đã chuyển về đơn vị khác và nhớ về đơn vị cũ là đoàn quân Tây Tiến.

– Nói chung 8 câu thơ đầu: đoạn thơ dựng lại tuyến đường hành quân giữa núi rừng Tây Bắc hiểm trở, khắc nghiệt, hùng vĩ và thơ mộng.
2. Thân bài
* Nỗi nhớ về núi rừng Tây Bắc và đơn vị tranh đấu cũ (hai câu đầu)
– Nỗi nhớ là xúc cảm chủ đạo xuyên suốt bài thơ, đoạn thơ.
– Nỗi nhớ đấy như dâng trào ko gì có thể kiểm soát được nên đã cất lên thành tiếng gọi:
“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”
+ Từ láy “chơi vơi”: gợi hình, gợi cảm => nỗi nhớ da diết, cháy bỏng như có hình, có khối gợi lên một ko gian rộng lớn, thời kì sâu thẳm.
– Hình ảnh núi rừng trùng điệp, hoang vu và tuyến đường hành quân khó khăn của người lính
   + Hình ảnh dốc, đèo, vực thẳm, rừng dày và tuyến đường hành quân cheo leo dần xuất hiện
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
   + Những địa danh: Sài Khao, Mường Lát gợi lên ko gian hoang vu nơi xứ lạ
   + Cảm giác mỏi mệt của người lính như được xua đi bởi hình ảnh đầy thơ mộng trong đêm của Mường Lát.
   + Câu thơ “Mường Lát hoa về trong đêm hơi” : tạo ra nhiều nét nghĩa không giống nhau, trong đó có thể hiểu đây là cách tả cảnh đoàn quân đốt đuốc đi trong đêm mịt mù hơi sương trông như những bông hoa.
   + Thanh bằng: gợi cảm giác lâng lâng, chơi vơi, tài hoa và lãng mạn. Quang cảnh núi rừng hiểm trở.
* Trục đường hành quân khó khăn của người lính:
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thăm
Hẻo lánh cồn mây súng ngửi trời
Nghìn thước lên cao, nghìn thước xuống
Nhà người nào Pha Luông mưa xa khơi
– Hai câu đầu: diễn tả độ cao vút trời vào sự cheo leo hẻo lánh của núi đèo Tây Bắc.
    + Từ láy tạo hình: “khúc khuỷu”, “thăm thẳm”, “hẻo lánh”… được sử dụng với mật độ cao
    + Thủ pháp điệp từ, đối lập được khai thác triệt để

“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm” : nghe như tiếng thở nặng nhọc của người lính.    

“súng ngửi trời” : trình bày tâm hồn sáng sủa yêu đời, thử thách với khó khăn, nguy hiểm của người lính.

– Hai câu sau:
    + Câu thứ ba có sự ngắt nhịp ở giữa như bẻ đôi => diễn tả hai sườn núi vút lên, đổ xuống gần như thẳng đứng
    + Câu thơ thứ tư toàn thanh bằng => tạo cảm giác lâng lâng, chơi vơi
=> Tây Bắc dữ dội, hoang vu được mở rộng ra theo chiều ko gian: theo những địa danh xứ lạ như Sài Khao, Mường Lát…
3. Kết bài
– Nói chung lại trị giá nội dung và nghệ thuật của 8 câu thơ đầu: Hình ảnh núi rừng Tây Bắc hùng vĩ, đầy nguy hiểm nhưng cũng rất nên thơ. Hình ảnh đoàn quân trên đường hành quân mang vẻ đẹp bi tráng.
– Gợi mở thêm vấn đề.
Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến – Bài mẫu 1

         Quang Dũng là một trong những thi sĩ chiến sĩ tiêu biểu của thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Ông đặc thù thành công lúc viết về đề tài người lính trí thức tiểu tư sản hào hoa, phong nhã. Một trong những bài thơ nổi tiếng viết về người lính là bài thơ Tây Tiến.
          Cảm hứng chủ đạo trong suốt bài thơ là cảm hứng về nỗi nhớ. Đó là nỗi nhớ khó phai của đời người lính Tây Tiến được khắc hoạ thành công ở tám câu đầu của bài thơ
“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi
Nhà người nào Pha Luông mưa xa khơi”
         Tây Tiến là 1 trong những bài thơ hay, tiêu biểu của Quang Dũng. Nhắc tới thi sĩ, ko người nào ko thể ko nhớ tới Tây Tiến. Bài thơ được sáng tác cuối năm 1948 lúc thi sĩ đóng quân ở Phù Lưu Chanh – 1 làng ven bờ sông Đáy, nhớ về đơn vị cũ ông đã viết nên bài thơ. Lúc đầu, ông đặt bài thơ là Nhớ Tây Tiến nhưng về sau đổi lại thành Tây Tiến vì thi sĩ cho rằng chỉ với 2 từ Tây Tiến cũng đủ đã gợi lên nỗi nhớ là cảm hứng chủ đạo chứ ko cần tới từ “nhớ”
          Là 1 người lính trẻ hào hoa, lãng mạn ra đi theo tiếng gọi của tổ quốc, sống và tranh đấu nơi núi rừng khó khăn nhưng chất thi sĩ vẫn trào dâng mãnh liệt trong lòng thi sĩ. 1 thời gắn bó sâu đậm với Tây Tiến, với đồng chí, với núi rừng đã làm cho ông ko khỏi bổi hổi, xúc động lúc nỗi nhớ về Tây Tiến dâng trào trong kí ức của thi sĩ.
“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi”
         Câu thơ như tiếng gọi thành tâm, tha thiết xuất phát từ trái tim và tâm hồn người thi sĩ. Bằng cách sử dụng câu cảm thán mở đầu bài thơ, Quang Dũng đã gọi tên cảm hứng chủ đạo của bài thơ là nỗi nhớ cồn cào, da diết về núi rừng Tây Bắc. bằng thủ pháp nghệ thuật nhân hoá, câu thơ trở thành đẹp diệu kỳ. “Sông Mã” ko thuần tuý là 1 con sông nhưng nó đã trở thành 1 hình ảnh hiện hữu, 1 chứng nhân lịch sử trong suốt cuộc đời người lính Tây Tiến với bao nỗi vui buồn, được mất. “Tây Tiến” ko chỉ để gọi tên 1 đơn vị quân nhân nhưng nó đã trở thành 1 người bạn ” tri kỉ tri kỷ” để thi sĩ thổ lộ tâm tình
“Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”
         Câu thơ thứ 2 với điệp từ “nhớ” được lặp lại 2 lần đã diễn tả nỗi nhớ quay quắt, cồn cào đang ùa vào tâm trí Quang Dũng. tính từ “chơi vơi” liên kết với từ “nhớ” đã khắc sâu được tình cảm nhớ nhung da diết của thi sĩ và nỗi nhớ đó như 1 cơn thác lũ tràn vào tâm trí thi sĩ đã đẩy ông vào trạng thái bồng bềnh, hư ảo. 2 câu đầu với cách dùng từ tuyển lựa, gợi hình gợi cảm đã mở cửa cho nỗi nhớ trào dâng mãnh liệt trong tâm hồn thi sĩ
“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Hẻo lánh cồn mây súng ngửi trời”
          Quang Dũng đã liệt kê hàng loạt các địa danh như: Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông… Đó là địa bàn hoạt động của binh đoàn Tây Tiến, những nơi họ đi qua và ngừng chân trên bước đường hành quân khó khăn, nhọc nhằn. Nói tới Tây Bắc, là nói tới vùng đất có địa hình hiểm trở, khí hậu khắc nghiệt. Có những đêm dài hành quân người lính Tây Tiến vất vả đi trong đêm dày đặc sương giăng, ko nhìn rõ mặt nhau. “Đoàn quân mỏi” nhưng ý thức ko “mỏi”. Bởi ý chí quyết tâm ra đi vì tổ quốc đã làm cho những trí thức Hà thành yêu nước trở thành kiên cường, quật cường hơn. Quang Dũng đã rất tài tình lúc đưa hình ảnh “sương” vào đây để khắc hoạ hơn sự khắc nghiệt của núi rừng Tây Bắc trong những đêm dài lạnh lẽo. Cũng mô tả về “sương”, Chế Lan Viên cũng đã viết trong “Tiếng hát con tàu”:
“Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ
Nơi nao qua lòng lại chẳng mến thương
Lúc ta ở chỉ là nơi đất ở
Lúc ta đi đất đã hoá tâm hồn”
         Có nhẽ tự nhiên rất gắn bó với người lính Tây Bắc nên nó đã trở thành 1 kí ức khó phai trong lòng thi sĩ. Tự nhiên tuy có đẹp nhưng cũng rất hiểm trở. Có những lúc người lính Tây Tiến phải vất vả để trèo lên đỉnh chạm tới mây trời. Quang Dũng đã khôn khéo sử dụng từ “thăm thẳm” nhưng ko dùng từ chót vót” bởi nói “chót vót” người ta còn có thể cảm nhận và thấy được bề sâu của nó nhưng “thăm thẳm” thì khó có người nào có thể tưởng tượng được nó sâu thế nào. Bằng những từ láy gợi hình ảnh rất cao như “khúc khuỷu”, “thăm thẳm”, “hẻo lánh”, thi sĩ đã làm cho người đọc cảm thu được cái hoang vu, dữ dội của núi rừng Tây Bắc. Thi sĩ cũng rất trẻ trung, tinh nghịch lúc đưa hình ảnh nhân hóa, ẩn dụ ” súng ngửi trời” để cho ta thấy kế bên tự nhiên hiểm trở còn hiện lên hình ảnh người lính với tư thế uy phong lẫm liệt nơi núi rừng hoang vu. Câu thơ sử dụng nhiều thanh trắc đã tạo nên vẻ gân guốc, nhọc nhằn đã nhấn mạnh được cảnh quang tự nhiên Tây Bắc thật cheo leo, hiểm trở
“Nghìn thước lên cao nghìn thước xuống”
         Điệp từ “nghìn thước” đã mở ra 1 ko gian nhìn từ trên xuống cũng như từ dưới lên thật hùng vĩ, giăng mắc. Kế bên cái hiểm trở, hoang vu ta cũng thấy được vẻ đẹp trữ tình nơi núi rừng:
“Nhà người nào Pha Luông mưa xa khơi”
         Có những cơn mưa rừng chợt tới đã để lại bao giá rét cho người lính Tây Tiến. Nhưng dưới ngòi bút của Quang Dũng, nó trở thành lãng mạn, trữ tình hơn. Thi sĩ đã thông minh, thông minh lúc nói tới mưa rừng bằng cụm từ “mưa xa khơi”. Nó gợi lên 1 cái gì đó rất kỳ bí, hoang vu giữa chốn núi rừng. Câu thơ thứ 8 nhiều thanh bằng như làm dịu đi vẻ dữ dội, hiểm trở của núi rừng và mở ra 1 bức tranh tự nhiên nơi núi rừng đầy lãng mạn. 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến là nỗi nhớ về núi rừng Tây Bắc, về đồng chí Tây Tiến nhưng qua những cụ thể đặc tả về tự nhiên núi rừng Tây Bắc, nó đã trở thành 1 kí ức xa xôi trong tâm trí thi sĩ. Đó là 1 nỗi nhớ mãnh liệt của người lính Tây Tiến nói riêng và của những người lính nói chung.
         Bài thơ “Tây Tiến” dưới ngòi bút của lãng mạn, trữ tình của Quang Dũng đã trở thành 1 tuyệt bút của mọi thời đại. Cảm hứng chủ đạo xuyên suốt bài thơ đó là cảm hứng về nỗi nhớ. Quang Dũng đã mô tả nỗi nhớ đó bằng ngòi bút tài tình giàu chất nhạc, chất họa và đậm chất thơ. Bài thơ là 1 khúc nhạc của tâm hồn, của cuộc sống. Cho nên, Xuân Diện thật chuẩn xác lúc cho rằng đọc bài thơ “Tây Tiến” như đang ngậm âm nhạc trong mồm. Bài thơ hay bởi lẽ nó được viết nên từ ngòi bút hào hoa, lãng mạn và của 1 người lính Tây Tiến nên nó có 1 cái rất riêng và đẹp. Mang chất lính nên Quang Dũng mới có thể viết nên những vần thơ hay như thế.
          “Tây Tiến” là 1 bài thơ hay được viết nên bởi tâm hồn, tài hoa, lãng mạn của người lính trí thức tiểu tư sản Quang Dũng. Bài thơ như 1 bức tượng đài bất tử đã tạc vào nền văn học Việt Nam hình ảnh những người lính trí thức yêu nước vô danh. Bài thơ xứng đáng được xem là tuyệt bút của Quang Dũng lúc viết về người lính trí thức tiểu tư sản hào hoa, phong nhã.
Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến – Bài mẫu 2
         Trong dòng chảy thi ca Việt Nam, thơ ca cách mệnh là một thời kì để lại được nhiều dấu ấn với những thi phẩm rực rỡ như Lên Tây Bắc, Tung hô chiến sĩ Điện Biên, Việt Bắc (Tố Hữu), Đồng chí (Chính Hữu), Quốc gia (Nguyễn Đình Thi),… Nhưng bài thơ được coi là “đứa con đầu lòng hào hoa và tráng kiện của thơ ca kháng chiến chống Pháp” chính là Tây Tiến của Quang Dũng. Bài thơ ko chỉ tái tạo lại những tháng năm kháng chiến của đoàn quân Tây Tiến nhưng còn khắc họa được bức tranh tự nhiên Tây Bắc vừa hùng vĩ nhưng lại vừa lãng mạn nên thơ. 8 câu thơ trước hết đã gây ấn tượng mạnh mẽ với độc giả về hình ảnh tự nhiên núi rừng Tây Bắc.
           Bài thơ Tây Tiến được sáng tác năm 1948 tại Phù Lưu Chanh, đơn vị nhưng Quang Dũng chuyển công việc tới sau lúc kết thúc quãng thời kì một năm gắn bó cùng sát cánh, kề vai với đồng chí của quân đoàn Tây Tiến. Trong nỗi nhớ khôn nguôi về đồng chí và núi rừng Tây Bắc, thi sĩ đã ko kìm được lòng mình, để tiếng nói của trái tim cất lên thành trang thơ. 8 câu thơ trước hết như một thước phim sống động tái tạo lại cảnh tự nhiên Tây Bắc hùng vĩ và hiểm trở khôn xiết.
“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”
          Hình ảnh con sông Mã hiện lên là một hình ảnh gắn liền với địa bàn hoạt động của đoàn quân Tây Tiến, là chứng nhân của một thời dậy vang, máu lửa. Tiếng gọi “Tây Tiến ơi” thân yêu, da diết như tiếng gọi một người bạn hữu đã lâu ngày xa cách. Điệp từ “nhớ” trong một câu toàn thanh bằng nhưng một nốt nhấn cao độ trong bản nhạc trầm, nỗi nhớ dường như luôn túc trực trong lòng thi sĩ bỗng trào dâng, lên tiếng. Hai câu thơ gieo vần “ơi” liên kết với tính từ “chơi vơi” vang lên, làm cho lòng ta cũng bỗng dưng lâng lâng, lửng lơ song lại ắp đầy, tuy nhẹ nhưng lại lắng sâu. Có nhẽ chính bởi vậy, cho dù thi sĩ đã bỏ đi một chữ “nhớ” trong tiêu đề lúc đầu của tác phẩm (“Nhớ Tây Tiến”) thì xúc cảm cũng vẫn ko thôi dào dạt. Nỗi nhớ trào dâng dường như thấm đẫm trong cảnh vật trên đường hành quân, trong những kỉ niệm của một thời kháng chiến. Tất cả một vùng ký ức sống lại, nồng nàn và thân yêu, thiết tha và trọn vẹn tựa như một thước phim quay chậm, rồi từng nét cảnh núi rừng hiện lên trong bao ngày gian lao, từng khoảnh khắc gian nan bên đồng chí anh em, từng dáng hình của người sơn nữ dáng duyên, và cả hơi cơm thanh đạm nhưng ấm nồng tình quân dân cá nước,… cứ thế nhưng hiện lên đong đầy.
         Tiếp nối hai câu thơ khắc hoạ nỗi nhớ, quang cảnh tự nhiên Tây Bắc khởi đầu xuất hiện, trước hết là những địa danh, những địa bàn hoạt động nhưng đội quân đã từng một thời gắn bó.
“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi”
         “Sài Khao”, “Mường Lát” là tên của những bản núi mù sương, nghe tuy xa lạ, nhưng lại là những cái tên đã đồng hành cùng người lính Tây Tiến suốt những tháng năm kháng chiến. Hai câu thơ như gợi nhắc tới một nơi xa xôi bí mật nào đó và cũng chính sự bí mật đấy lại quyến rũ vô cùng. “Sương lấp đoàn quân mỏi” là cụ thể tả thực khắc họa những trắc trở gian nan nhưng người lính Tây Tiến gặp phải trên tuyến đường hành quân. Tự nhiên núi rừng miền cao ẩn chứa biết bao những thử thách gian nan là thế nhưng vẫn có ở đâu đây những nét đẹp thơ mộng. Thi sĩ sử dụng hai từ “đêm hơi” chứ ko phải “đêm sương”, là một đêm mờ hơi sương, đêm của hơi núi rừng, hay là một đêm nhẹ như hơi thở. Hai chữ “đêm hơi” gợi nhiều hơn tả, nó như phác lên trong tâm trí của người đọc những nét vẽ thật mơ hồ, ảo diệu, dường như lại chẳng nhìn thấy nhưng chỉ có thể cảm nhận. Trong ko gian kì ảo nên thơ, hình ảnh “hoa về” như điểm nhấn cho cảm hứng lãng mạn. “Hoa” là những bông hoa trên tay trên vai trên áo trên mũ người lính trên đường hành quân, là hoa lửa hoa đuốc sáng soi dẫn đường trong đêm tối, hay phải chăng “hoa” lại chính là người con gái người thôn nữ miền sơn cước đi về trong miền nhớ, miền thương thẳm sâu trong tâm hồn người chiến sĩ.
          Nói tới Tây Bắc, ta ko thể ko nghĩ tới tự nhiên hùng vĩ, có phần hiểm trở. Những núi cao, dốc thẳm luôn là những trở ngại trên tuyến đường hành quân của những người lính trẻ.
“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Hẻo lánh cồn mây súng ngửi trời
Nghìn thước lên cao nghìn thước xuống”
         Điệp từ “dốc”, “nghìn thước” liên kết với các giàu tính gợi hình ” khúc khuỷu”, “thăm thẳm”, “hẻo lánh” và thủ pháp tương phản đối lập “lên – xuống”, đối xứng giữa hai tiểu vế đã khắc hoạ quang cảnh tự nhiên trùng điệp, núi tiếp núi, đèo nối đèo, lên cao chót vót rồi bỗng dưng lại dốc xuống tận cùng như muốn thử thách lòng gan góc và ý chí kiên cường của người lính Tây Tiến. Trong giờ phút gian lao đấy, hình ảnh “súng ngửi trời” hiện lên thật thi vị. Đây quả là một cái nhìn hóm hỉnh, thú vị của người chiến sĩ, nó như phá tan đi cái nhọc nhằn của quãng đường hành quân đầy gian lao. Trong bài thơ “Đồng chí”, Chính Hữu cũng đã từng ghi lại hình ảnh “đầu súng trăng treo”. Đây đều là những hình ảnh tả thực, lúc những người lính hành quân, họ luôn vác súng trên vai, đầu súng hướng lên, ở một góc độ nào đó, như thể súng đang chạm tới trời, như đang treo mảnh trăng sáng của đêm rừng canh gác. Chính qua những hình ảnh đó, nhưng ta như nhìn vào được tâm hồn của họ, họ cũng mang một trái tim trẻ trung, cũng thơ mộng chứ ko hề chai sạn giữa những gian nan thử thách nơi chiến trường gay cấn, khốc liệt. Và dường như, lúc đã vượt qua hết những chặng gian lao, người lính như thở phào nhẹ nhõm, đứng nơi đỉnh cao, phóng tầm mắt ra xa
“Nhà người nào Pha Luông mưa xa khơi”
         Sau 3 câu thơ liên tục đặc tả cảnh tự nhiên hùng vĩ hiểm trở, thi sĩ sử dụng một câu thơ toàn vần bằng gợi lên quang cảnh yên bình, thơ mộng. Thì ra, Tây Bắc ngoài những đèo cao dốc thẳm cũng có những góc lãng mạn, nên thơ tới thế, nhưng có nhẽ, chỉ có người nào đã từng gắn bó thân thuộc với nơi đây mới có thể khám phá nên nhưng thôi.
         Bằng sự hiểu biết thâm thúy là ngòi bút hào hoa phóng khoáng, Quang Dũng đã khắc họa hình ảnh tự nhiên Tây Tiến thật hùng vĩ nhưng cũng rất đỗi nên thơ. Đoạn thơ đã góp một phần ko nhỏ vào thành công của tác phẩm nói riêng và văn thơ cách mệnh nói chung, để Tây Tiến trở thành một bông hoa mãi tươi xanh trong dòng chảy của thời kì.
Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến – Bài mẫu 3

         Tám câu thơ đầu đã vẽ nên bức tranh tự nhiên Tây Bắc hùng vĩ, dữ dội, đồng thời đó cũng là thử thách nguy hiểm trên chặng đường hành quân của binh đoàn Tây Tiến.
“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”
         Nỗi thương nhớ ko chỉ còn là những rung động trong tâm tưởng nhưng đã ngân vang nhẹ nhõm, tha thiết, trải rộng ra ko gian, thời kì. Hình ảnh trước hết gợi về trong tâm trí thi sĩ là hình ảnh sông Mã- dòng sông rộng dài, hùng vĩ gắn liền với Tây Tiến. Nhớ về tự nhiên hùng vĩ, tráng lệ cũng là lúc nỗi nhớ về đồng đội- những người kề vai sát cánh năm xưa trỗi dậy. Sâu thăm trong 3 tiếng “Tây Tiến ơi” còn là tiếng gọi một người bạn, một người thân, một người tri kỷ, gọi về cả một sự gắn bó quân dân thắm thiết. Nhưng giờ đây, cả sông Mã và Tây Tiến đều đã “xa rồi”, đó là hiện thực mất mát phải đương đầu. Nhưng cũng vì xa rồi nên mới hoài niệm, mới da diết, thương nhớ tới thế. Đối với Quang Dũng, mỗi tên gọi là một phần kí ức – nơi cất giấu quãng tâm hồn mình, là địa chỉ tìm về của nỗi nhớ. Nỗi “nhớ chơi vơi”- một thông minh ngôn từ lạ mắt của riêng Quang Dũng. Với thi sĩ, nhớ Tây Tiến ko dữ dội, cuộn lòng nhưng cứ mênh mang, tha thiết, ám ảnh dư vang. Nhưng giờ đây tất cả chỉ là kỉ niệm vì “Sông Mã xa rồi”- đó là sự ý thức của nhân vật trữ tình về hiện thực phũ phàng, khắc nghiệt, Nhưng càng xa càng nhớ, nỗi nhớ cứ đong đầy, đọng lại bao dư ba. Nỗi nhớ mỗi lúc một hiện rõ qua nỗi nhớ của thi sĩ.
“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Hẻo lánh cồn mây, súng ngửi trời
Nghìn thước lên cao, nghìn thước xuống
Nhà người nào Pha Luông mưa xa khơi”
         Đoạn thơ hiện lên một loạt những địa danh. Sài Khao, Pha Luông hay Mường Hịch đều là những cái tên xa lạ mới mẻ với những chàng trai Hà thành. Vậy nhưng bước vào cuộc kháng chiến,ko một tẹo e ngại, ko một tẹo sợ sệt, họ vẫn ngày ngày hành quân trên những cung đường xa lạ đấy, dưới màn sương giăng trắng trời, lạnh lẽo cản trở tầm nhìn. Quang Dũng tái tạo cung đường Tây Bắc qua hệ thống từ láy rực rỡ “hẻo lánh, khúc khuỷu, thăm thẳm”. Mọi nguy hại, hiểm trở đều hiện lên sắc nét qua từng câu, từng chữ. Đó là cái lồi lõm, trắc trở của dốc thẳng, là cái chót vót của đèo cao và sự tun hút của những vực sâu vô tận. Tất cả đã góp phần hiện lên cái hùng vĩ, dữ dội nhưng cũng tràn đầy nguy hiểm của tự nhiên Tây Bắc. Nhưng những trắc trở đấy ko khiến họ chùn bước. Ở đoạn thơ, ta vẫn bắt gặp chút phảng phất của một tâm hồn lãng mạn, hào hoa. Trong những đêm hành quân khó khăn, họ vẫn nghĩ về hoa, về những mái nhà, từ đó thấy được tâm hồn trẻ trung, sáng sủa, ko đầu hàng trước khó khăn của những người lính.
…/…
Từ dàn ý Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến nhưng Top loigiai đã hướng dẫn trên đây, các em hãy vận dụng tri thức đã học, liên kết với cách hành văn của mình để làm thành một bài viết hoàn chỉnh nhé. Ngoài ra, chúng tôi thường xuyên cập nhật những bài văn mẫu lớp 12 hay nhất phục vụ việc học văn của các em. Chúc các em luôn học vui và học tốt!
Đăng bởi: Trường THPT Diễn Châu 2
Phân mục: Lớp 12, Ngữ Văn 12

#Phân #tích #câu #thơ #đầu #của #bài #thơ #Tây #Tiến #hay #nhất

[rule_2_plain]

#Phân #tích #câu #thơ #đầu #của #bài #thơ #Tây #Tiến #hay #nhất

[rule_2_plain]

#Phân #tích #câu #thơ #đầu #của #bài #thơ #Tây #Tiến #hay #nhất

[rule_3_plain]

#Phân #tích #câu #thơ #đầu #của #bài #thơ #Tây #Tiến #hay #nhất

Tuyển chọn những bài văn hay chủ đề phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng. Các bài văn mẫu được tổng hợp từ các bài viết hay, xuất sắc của các bạn học trò trên cả nước. Mời các em cùng tham khảo nhé!
Xem nhanh nội dung1 Dàn ý Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến2 Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến – Bài mẫu 13 Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến – Bài mẫu 24 Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến – Bài mẫu 3
Dàn ý Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến

Xem thêm:  Nhận định về game 4k là gì

1. Mở bài
– Giới thiệu sơ lược về tác giả, tác phẩm
+ Quang Dũng thuộc thế hệ các thi sĩ miền Bắc trưởng thành và nổi danh sau Cách mệnh tháng Tám.
+ Bài thơ Tây Tiến được viết vào năm 1948 ở Phù Lưu Chanh (Hà Tây), lúc Quang Dũng đã chuyển về đơn vị khác và nhớ về đơn vị cũ là đoàn quân Tây Tiến.

– Nói chung 8 câu thơ đầu: đoạn thơ dựng lại tuyến đường hành quân giữa núi rừng Tây Bắc hiểm trở, khắc nghiệt, hùng vĩ và thơ mộng.
2. Thân bài
* Nỗi nhớ về núi rừng Tây Bắc và đơn vị tranh đấu cũ (hai câu đầu)
– Nỗi nhớ là xúc cảm chủ đạo xuyên suốt bài thơ, đoạn thơ.
– Nỗi nhớ đấy như dâng trào ko gì có thể kiểm soát được nên đã cất lên thành tiếng gọi:
“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”
+ Từ láy “chơi vơi”: gợi hình, gợi cảm => nỗi nhớ da diết, cháy bỏng như có hình, có khối gợi lên một ko gian rộng lớn, thời kì sâu thẳm.
– Hình ảnh núi rừng trùng điệp, hoang vu và tuyến đường hành quân khó khăn của người lính
   + Hình ảnh dốc, đèo, vực thẳm, rừng dày và tuyến đường hành quân cheo leo dần xuất hiện
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
   + Những địa danh: Sài Khao, Mường Lát gợi lên ko gian hoang vu nơi xứ lạ
   + Cảm giác mỏi mệt của người lính như được xua đi bởi hình ảnh đầy thơ mộng trong đêm của Mường Lát.
   + Câu thơ “Mường Lát hoa về trong đêm hơi” : tạo ra nhiều nét nghĩa không giống nhau, trong đó có thể hiểu đây là cách tả cảnh đoàn quân đốt đuốc đi trong đêm mịt mù hơi sương trông như những bông hoa.
   + Thanh bằng: gợi cảm giác lâng lâng, chơi vơi, tài hoa và lãng mạn. Quang cảnh núi rừng hiểm trở.
* Trục đường hành quân khó khăn của người lính:
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thăm
Hẻo lánh cồn mây súng ngửi trời
Nghìn thước lên cao, nghìn thước xuống
Nhà người nào Pha Luông mưa xa khơi
– Hai câu đầu: diễn tả độ cao vút trời vào sự cheo leo hẻo lánh của núi đèo Tây Bắc.
    + Từ láy tạo hình: “khúc khuỷu”, “thăm thẳm”, “hẻo lánh”… được sử dụng với mật độ cao
    + Thủ pháp điệp từ, đối lập được khai thác triệt để

“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm” : nghe như tiếng thở nặng nhọc của người lính.    

“súng ngửi trời” : trình bày tâm hồn sáng sủa yêu đời, thử thách với khó khăn, nguy hiểm của người lính.

– Hai câu sau:
    + Câu thứ ba có sự ngắt nhịp ở giữa như bẻ đôi => diễn tả hai sườn núi vút lên, đổ xuống gần như thẳng đứng
    + Câu thơ thứ tư toàn thanh bằng => tạo cảm giác lâng lâng, chơi vơi
=> Tây Bắc dữ dội, hoang vu được mở rộng ra theo chiều ko gian: theo những địa danh xứ lạ như Sài Khao, Mường Lát…
3. Kết bài
– Nói chung lại trị giá nội dung và nghệ thuật của 8 câu thơ đầu: Hình ảnh núi rừng Tây Bắc hùng vĩ, đầy nguy hiểm nhưng cũng rất nên thơ. Hình ảnh đoàn quân trên đường hành quân mang vẻ đẹp bi tráng.
– Gợi mở thêm vấn đề.
Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến – Bài mẫu 1

         Quang Dũng là một trong những thi sĩ chiến sĩ tiêu biểu của thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Ông đặc thù thành công lúc viết về đề tài người lính trí thức tiểu tư sản hào hoa, phong nhã. Một trong những bài thơ nổi tiếng viết về người lính là bài thơ Tây Tiến.
          Cảm hứng chủ đạo trong suốt bài thơ là cảm hứng về nỗi nhớ. Đó là nỗi nhớ khó phai của đời người lính Tây Tiến được khắc hoạ thành công ở tám câu đầu của bài thơ
“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi
Nhà người nào Pha Luông mưa xa khơi”
         Tây Tiến là 1 trong những bài thơ hay, tiêu biểu của Quang Dũng. Nhắc tới thi sĩ, ko người nào ko thể ko nhớ tới Tây Tiến. Bài thơ được sáng tác cuối năm 1948 lúc thi sĩ đóng quân ở Phù Lưu Chanh – 1 làng ven bờ sông Đáy, nhớ về đơn vị cũ ông đã viết nên bài thơ. Lúc đầu, ông đặt bài thơ là Nhớ Tây Tiến nhưng về sau đổi lại thành Tây Tiến vì thi sĩ cho rằng chỉ với 2 từ Tây Tiến cũng đủ đã gợi lên nỗi nhớ là cảm hứng chủ đạo chứ ko cần tới từ “nhớ”
          Là 1 người lính trẻ hào hoa, lãng mạn ra đi theo tiếng gọi của tổ quốc, sống và tranh đấu nơi núi rừng khó khăn nhưng chất thi sĩ vẫn trào dâng mãnh liệt trong lòng thi sĩ. 1 thời gắn bó sâu đậm với Tây Tiến, với đồng chí, với núi rừng đã làm cho ông ko khỏi bổi hổi, xúc động lúc nỗi nhớ về Tây Tiến dâng trào trong kí ức của thi sĩ.
“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi”
         Câu thơ như tiếng gọi thành tâm, tha thiết xuất phát từ trái tim và tâm hồn người thi sĩ. Bằng cách sử dụng câu cảm thán mở đầu bài thơ, Quang Dũng đã gọi tên cảm hứng chủ đạo của bài thơ là nỗi nhớ cồn cào, da diết về núi rừng Tây Bắc. bằng thủ pháp nghệ thuật nhân hoá, câu thơ trở thành đẹp diệu kỳ. “Sông Mã” ko thuần tuý là 1 con sông nhưng nó đã trở thành 1 hình ảnh hiện hữu, 1 chứng nhân lịch sử trong suốt cuộc đời người lính Tây Tiến với bao nỗi vui buồn, được mất. “Tây Tiến” ko chỉ để gọi tên 1 đơn vị quân nhân nhưng nó đã trở thành 1 người bạn ” tri kỉ tri kỷ” để thi sĩ thổ lộ tâm tình
“Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”
         Câu thơ thứ 2 với điệp từ “nhớ” được lặp lại 2 lần đã diễn tả nỗi nhớ quay quắt, cồn cào đang ùa vào tâm trí Quang Dũng. tính từ “chơi vơi” liên kết với từ “nhớ” đã khắc sâu được tình cảm nhớ nhung da diết của thi sĩ và nỗi nhớ đó như 1 cơn thác lũ tràn vào tâm trí thi sĩ đã đẩy ông vào trạng thái bồng bềnh, hư ảo. 2 câu đầu với cách dùng từ tuyển lựa, gợi hình gợi cảm đã mở cửa cho nỗi nhớ trào dâng mãnh liệt trong tâm hồn thi sĩ
“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Hẻo lánh cồn mây súng ngửi trời”
          Quang Dũng đã liệt kê hàng loạt các địa danh như: Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông… Đó là địa bàn hoạt động của binh đoàn Tây Tiến, những nơi họ đi qua và ngừng chân trên bước đường hành quân khó khăn, nhọc nhằn. Nói tới Tây Bắc, là nói tới vùng đất có địa hình hiểm trở, khí hậu khắc nghiệt. Có những đêm dài hành quân người lính Tây Tiến vất vả đi trong đêm dày đặc sương giăng, ko nhìn rõ mặt nhau. “Đoàn quân mỏi” nhưng ý thức ko “mỏi”. Bởi ý chí quyết tâm ra đi vì tổ quốc đã làm cho những trí thức Hà thành yêu nước trở thành kiên cường, quật cường hơn. Quang Dũng đã rất tài tình lúc đưa hình ảnh “sương” vào đây để khắc hoạ hơn sự khắc nghiệt của núi rừng Tây Bắc trong những đêm dài lạnh lẽo. Cũng mô tả về “sương”, Chế Lan Viên cũng đã viết trong “Tiếng hát con tàu”:
“Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ
Nơi nao qua lòng lại chẳng mến thương
Lúc ta ở chỉ là nơi đất ở
Lúc ta đi đất đã hoá tâm hồn”
         Có nhẽ tự nhiên rất gắn bó với người lính Tây Bắc nên nó đã trở thành 1 kí ức khó phai trong lòng thi sĩ. Tự nhiên tuy có đẹp nhưng cũng rất hiểm trở. Có những lúc người lính Tây Tiến phải vất vả để trèo lên đỉnh chạm tới mây trời. Quang Dũng đã khôn khéo sử dụng từ “thăm thẳm” nhưng ko dùng từ chót vót” bởi nói “chót vót” người ta còn có thể cảm nhận và thấy được bề sâu của nó nhưng “thăm thẳm” thì khó có người nào có thể tưởng tượng được nó sâu thế nào. Bằng những từ láy gợi hình ảnh rất cao như “khúc khuỷu”, “thăm thẳm”, “hẻo lánh”, thi sĩ đã làm cho người đọc cảm thu được cái hoang vu, dữ dội của núi rừng Tây Bắc. Thi sĩ cũng rất trẻ trung, tinh nghịch lúc đưa hình ảnh nhân hóa, ẩn dụ ” súng ngửi trời” để cho ta thấy kế bên tự nhiên hiểm trở còn hiện lên hình ảnh người lính với tư thế uy phong lẫm liệt nơi núi rừng hoang vu. Câu thơ sử dụng nhiều thanh trắc đã tạo nên vẻ gân guốc, nhọc nhằn đã nhấn mạnh được cảnh quang tự nhiên Tây Bắc thật cheo leo, hiểm trở
“Nghìn thước lên cao nghìn thước xuống”
         Điệp từ “nghìn thước” đã mở ra 1 ko gian nhìn từ trên xuống cũng như từ dưới lên thật hùng vĩ, giăng mắc. Kế bên cái hiểm trở, hoang vu ta cũng thấy được vẻ đẹp trữ tình nơi núi rừng:
“Nhà người nào Pha Luông mưa xa khơi”
         Có những cơn mưa rừng chợt tới đã để lại bao giá rét cho người lính Tây Tiến. Nhưng dưới ngòi bút của Quang Dũng, nó trở thành lãng mạn, trữ tình hơn. Thi sĩ đã thông minh, thông minh lúc nói tới mưa rừng bằng cụm từ “mưa xa khơi”. Nó gợi lên 1 cái gì đó rất kỳ bí, hoang vu giữa chốn núi rừng. Câu thơ thứ 8 nhiều thanh bằng như làm dịu đi vẻ dữ dội, hiểm trở của núi rừng và mở ra 1 bức tranh tự nhiên nơi núi rừng đầy lãng mạn. 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến là nỗi nhớ về núi rừng Tây Bắc, về đồng chí Tây Tiến nhưng qua những cụ thể đặc tả về tự nhiên núi rừng Tây Bắc, nó đã trở thành 1 kí ức xa xôi trong tâm trí thi sĩ. Đó là 1 nỗi nhớ mãnh liệt của người lính Tây Tiến nói riêng và của những người lính nói chung.
         Bài thơ “Tây Tiến” dưới ngòi bút của lãng mạn, trữ tình của Quang Dũng đã trở thành 1 tuyệt bút của mọi thời đại. Cảm hứng chủ đạo xuyên suốt bài thơ đó là cảm hứng về nỗi nhớ. Quang Dũng đã mô tả nỗi nhớ đó bằng ngòi bút tài tình giàu chất nhạc, chất họa và đậm chất thơ. Bài thơ là 1 khúc nhạc của tâm hồn, của cuộc sống. Cho nên, Xuân Diện thật chuẩn xác lúc cho rằng đọc bài thơ “Tây Tiến” như đang ngậm âm nhạc trong mồm. Bài thơ hay bởi lẽ nó được viết nên từ ngòi bút hào hoa, lãng mạn và của 1 người lính Tây Tiến nên nó có 1 cái rất riêng và đẹp. Mang chất lính nên Quang Dũng mới có thể viết nên những vần thơ hay như thế.
          “Tây Tiến” là 1 bài thơ hay được viết nên bởi tâm hồn, tài hoa, lãng mạn của người lính trí thức tiểu tư sản Quang Dũng. Bài thơ như 1 bức tượng đài bất tử đã tạc vào nền văn học Việt Nam hình ảnh những người lính trí thức yêu nước vô danh. Bài thơ xứng đáng được xem là tuyệt bút của Quang Dũng lúc viết về người lính trí thức tiểu tư sản hào hoa, phong nhã.
Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến – Bài mẫu 2
         Trong dòng chảy thi ca Việt Nam, thơ ca cách mệnh là một thời kì để lại được nhiều dấu ấn với những thi phẩm rực rỡ như Lên Tây Bắc, Tung hô chiến sĩ Điện Biên, Việt Bắc (Tố Hữu), Đồng chí (Chính Hữu), Quốc gia (Nguyễn Đình Thi),… Nhưng bài thơ được coi là “đứa con đầu lòng hào hoa và tráng kiện của thơ ca kháng chiến chống Pháp” chính là Tây Tiến của Quang Dũng. Bài thơ ko chỉ tái tạo lại những tháng năm kháng chiến của đoàn quân Tây Tiến nhưng còn khắc họa được bức tranh tự nhiên Tây Bắc vừa hùng vĩ nhưng lại vừa lãng mạn nên thơ. 8 câu thơ trước hết đã gây ấn tượng mạnh mẽ với độc giả về hình ảnh tự nhiên núi rừng Tây Bắc.
           Bài thơ Tây Tiến được sáng tác năm 1948 tại Phù Lưu Chanh, đơn vị nhưng Quang Dũng chuyển công việc tới sau lúc kết thúc quãng thời kì một năm gắn bó cùng sát cánh, kề vai với đồng chí của quân đoàn Tây Tiến. Trong nỗi nhớ khôn nguôi về đồng chí và núi rừng Tây Bắc, thi sĩ đã ko kìm được lòng mình, để tiếng nói của trái tim cất lên thành trang thơ. 8 câu thơ trước hết như một thước phim sống động tái tạo lại cảnh tự nhiên Tây Bắc hùng vĩ và hiểm trở khôn xiết.
“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”
          Hình ảnh con sông Mã hiện lên là một hình ảnh gắn liền với địa bàn hoạt động của đoàn quân Tây Tiến, là chứng nhân của một thời dậy vang, máu lửa. Tiếng gọi “Tây Tiến ơi” thân yêu, da diết như tiếng gọi một người bạn hữu đã lâu ngày xa cách. Điệp từ “nhớ” trong một câu toàn thanh bằng nhưng một nốt nhấn cao độ trong bản nhạc trầm, nỗi nhớ dường như luôn túc trực trong lòng thi sĩ bỗng trào dâng, lên tiếng. Hai câu thơ gieo vần “ơi” liên kết với tính từ “chơi vơi” vang lên, làm cho lòng ta cũng bỗng dưng lâng lâng, lửng lơ song lại ắp đầy, tuy nhẹ nhưng lại lắng sâu. Có nhẽ chính bởi vậy, cho dù thi sĩ đã bỏ đi một chữ “nhớ” trong tiêu đề lúc đầu của tác phẩm (“Nhớ Tây Tiến”) thì xúc cảm cũng vẫn ko thôi dào dạt. Nỗi nhớ trào dâng dường như thấm đẫm trong cảnh vật trên đường hành quân, trong những kỉ niệm của một thời kháng chiến. Tất cả một vùng ký ức sống lại, nồng nàn và thân yêu, thiết tha và trọn vẹn tựa như một thước phim quay chậm, rồi từng nét cảnh núi rừng hiện lên trong bao ngày gian lao, từng khoảnh khắc gian nan bên đồng chí anh em, từng dáng hình của người sơn nữ dáng duyên, và cả hơi cơm thanh đạm nhưng ấm nồng tình quân dân cá nước,… cứ thế nhưng hiện lên đong đầy.
         Tiếp nối hai câu thơ khắc hoạ nỗi nhớ, quang cảnh tự nhiên Tây Bắc khởi đầu xuất hiện, trước hết là những địa danh, những địa bàn hoạt động nhưng đội quân đã từng một thời gắn bó.
“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi”
         “Sài Khao”, “Mường Lát” là tên của những bản núi mù sương, nghe tuy xa lạ, nhưng lại là những cái tên đã đồng hành cùng người lính Tây Tiến suốt những tháng năm kháng chiến. Hai câu thơ như gợi nhắc tới một nơi xa xôi bí mật nào đó và cũng chính sự bí mật đấy lại quyến rũ vô cùng. “Sương lấp đoàn quân mỏi” là cụ thể tả thực khắc họa những trắc trở gian nan nhưng người lính Tây Tiến gặp phải trên tuyến đường hành quân. Tự nhiên núi rừng miền cao ẩn chứa biết bao những thử thách gian nan là thế nhưng vẫn có ở đâu đây những nét đẹp thơ mộng. Thi sĩ sử dụng hai từ “đêm hơi” chứ ko phải “đêm sương”, là một đêm mờ hơi sương, đêm của hơi núi rừng, hay là một đêm nhẹ như hơi thở. Hai chữ “đêm hơi” gợi nhiều hơn tả, nó như phác lên trong tâm trí của người đọc những nét vẽ thật mơ hồ, ảo diệu, dường như lại chẳng nhìn thấy nhưng chỉ có thể cảm nhận. Trong ko gian kì ảo nên thơ, hình ảnh “hoa về” như điểm nhấn cho cảm hứng lãng mạn. “Hoa” là những bông hoa trên tay trên vai trên áo trên mũ người lính trên đường hành quân, là hoa lửa hoa đuốc sáng soi dẫn đường trong đêm tối, hay phải chăng “hoa” lại chính là người con gái người thôn nữ miền sơn cước đi về trong miền nhớ, miền thương thẳm sâu trong tâm hồn người chiến sĩ.
          Nói tới Tây Bắc, ta ko thể ko nghĩ tới tự nhiên hùng vĩ, có phần hiểm trở. Những núi cao, dốc thẳm luôn là những trở ngại trên tuyến đường hành quân của những người lính trẻ.
“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Hẻo lánh cồn mây súng ngửi trời
Nghìn thước lên cao nghìn thước xuống”
         Điệp từ “dốc”, “nghìn thước” liên kết với các giàu tính gợi hình ” khúc khuỷu”, “thăm thẳm”, “hẻo lánh” và thủ pháp tương phản đối lập “lên – xuống”, đối xứng giữa hai tiểu vế đã khắc hoạ quang cảnh tự nhiên trùng điệp, núi tiếp núi, đèo nối đèo, lên cao chót vót rồi bỗng dưng lại dốc xuống tận cùng như muốn thử thách lòng gan góc và ý chí kiên cường của người lính Tây Tiến. Trong giờ phút gian lao đấy, hình ảnh “súng ngửi trời” hiện lên thật thi vị. Đây quả là một cái nhìn hóm hỉnh, thú vị của người chiến sĩ, nó như phá tan đi cái nhọc nhằn của quãng đường hành quân đầy gian lao. Trong bài thơ “Đồng chí”, Chính Hữu cũng đã từng ghi lại hình ảnh “đầu súng trăng treo”. Đây đều là những hình ảnh tả thực, lúc những người lính hành quân, họ luôn vác súng trên vai, đầu súng hướng lên, ở một góc độ nào đó, như thể súng đang chạm tới trời, như đang treo mảnh trăng sáng của đêm rừng canh gác. Chính qua những hình ảnh đó, nhưng ta như nhìn vào được tâm hồn của họ, họ cũng mang một trái tim trẻ trung, cũng thơ mộng chứ ko hề chai sạn giữa những gian nan thử thách nơi chiến trường gay cấn, khốc liệt. Và dường như, lúc đã vượt qua hết những chặng gian lao, người lính như thở phào nhẹ nhõm, đứng nơi đỉnh cao, phóng tầm mắt ra xa
“Nhà người nào Pha Luông mưa xa khơi”
         Sau 3 câu thơ liên tục đặc tả cảnh tự nhiên hùng vĩ hiểm trở, thi sĩ sử dụng một câu thơ toàn vần bằng gợi lên quang cảnh yên bình, thơ mộng. Thì ra, Tây Bắc ngoài những đèo cao dốc thẳm cũng có những góc lãng mạn, nên thơ tới thế, nhưng có nhẽ, chỉ có người nào đã từng gắn bó thân thuộc với nơi đây mới có thể khám phá nên nhưng thôi.
         Bằng sự hiểu biết thâm thúy là ngòi bút hào hoa phóng khoáng, Quang Dũng đã khắc họa hình ảnh tự nhiên Tây Tiến thật hùng vĩ nhưng cũng rất đỗi nên thơ. Đoạn thơ đã góp một phần ko nhỏ vào thành công của tác phẩm nói riêng và văn thơ cách mệnh nói chung, để Tây Tiến trở thành một bông hoa mãi tươi xanh trong dòng chảy của thời kì.
Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến – Bài mẫu 3

         Tám câu thơ đầu đã vẽ nên bức tranh tự nhiên Tây Bắc hùng vĩ, dữ dội, đồng thời đó cũng là thử thách nguy hiểm trên chặng đường hành quân của binh đoàn Tây Tiến.
“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”
         Nỗi thương nhớ ko chỉ còn là những rung động trong tâm tưởng nhưng đã ngân vang nhẹ nhõm, tha thiết, trải rộng ra ko gian, thời kì. Hình ảnh trước hết gợi về trong tâm trí thi sĩ là hình ảnh sông Mã- dòng sông rộng dài, hùng vĩ gắn liền với Tây Tiến. Nhớ về tự nhiên hùng vĩ, tráng lệ cũng là lúc nỗi nhớ về đồng đội- những người kề vai sát cánh năm xưa trỗi dậy. Sâu thăm trong 3 tiếng “Tây Tiến ơi” còn là tiếng gọi một người bạn, một người thân, một người tri kỷ, gọi về cả một sự gắn bó quân dân thắm thiết. Nhưng giờ đây, cả sông Mã và Tây Tiến đều đã “xa rồi”, đó là hiện thực mất mát phải đương đầu. Nhưng cũng vì xa rồi nên mới hoài niệm, mới da diết, thương nhớ tới thế. Đối với Quang Dũng, mỗi tên gọi là một phần kí ức – nơi cất giấu quãng tâm hồn mình, là địa chỉ tìm về của nỗi nhớ. Nỗi “nhớ chơi vơi”- một thông minh ngôn từ lạ mắt của riêng Quang Dũng. Với thi sĩ, nhớ Tây Tiến ko dữ dội, cuộn lòng nhưng cứ mênh mang, tha thiết, ám ảnh dư vang. Nhưng giờ đây tất cả chỉ là kỉ niệm vì “Sông Mã xa rồi”- đó là sự ý thức của nhân vật trữ tình về hiện thực phũ phàng, khắc nghiệt, Nhưng càng xa càng nhớ, nỗi nhớ cứ đong đầy, đọng lại bao dư ba. Nỗi nhớ mỗi lúc một hiện rõ qua nỗi nhớ của thi sĩ.
“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Hẻo lánh cồn mây, súng ngửi trời
Nghìn thước lên cao, nghìn thước xuống
Nhà người nào Pha Luông mưa xa khơi”
         Đoạn thơ hiện lên một loạt những địa danh. Sài Khao, Pha Luông hay Mường Hịch đều là những cái tên xa lạ mới mẻ với những chàng trai Hà thành. Vậy nhưng bước vào cuộc kháng chiến,ko một tẹo e ngại, ko một tẹo sợ sệt, họ vẫn ngày ngày hành quân trên những cung đường xa lạ đấy, dưới màn sương giăng trắng trời, lạnh lẽo cản trở tầm nhìn. Quang Dũng tái tạo cung đường Tây Bắc qua hệ thống từ láy rực rỡ “hẻo lánh, khúc khuỷu, thăm thẳm”. Mọi nguy hại, hiểm trở đều hiện lên sắc nét qua từng câu, từng chữ. Đó là cái lồi lõm, trắc trở của dốc thẳng, là cái chót vót của đèo cao và sự tun hút của những vực sâu vô tận. Tất cả đã góp phần hiện lên cái hùng vĩ, dữ dội nhưng cũng tràn đầy nguy hiểm của tự nhiên Tây Bắc. Nhưng những trắc trở đấy ko khiến họ chùn bước. Ở đoạn thơ, ta vẫn bắt gặp chút phảng phất của một tâm hồn lãng mạn, hào hoa. Trong những đêm hành quân khó khăn, họ vẫn nghĩ về hoa, về những mái nhà, từ đó thấy được tâm hồn trẻ trung, sáng sủa, ko đầu hàng trước khó khăn của những người lính.
…/…
Từ dàn ý Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến nhưng Top loigiai đã hướng dẫn trên đây, các em hãy vận dụng tri thức đã học, liên kết với cách hành văn của mình để làm thành một bài viết hoàn chỉnh nhé. Ngoài ra, chúng tôi thường xuyên cập nhật những bài văn mẫu lớp 12 hay nhất phục vụ việc học văn của các em. Chúc các em luôn học vui và học tốt!
Đăng bởi: Trường THPT Diễn Châu 2
Phân mục: Lớp 12, Ngữ Văn 12

xem thêm thông tin chi tiết về Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến(hay nhất)

Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến(hay nhất)

Hình Ảnh về: Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến(hay nhất)

Video về: Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến(hay nhất)

Wiki về Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến(hay nhất)

Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến(hay nhất) -

Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến

(hay nhất)

Hình Ảnh về: Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến

(hay nhất)

Video về: Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến

(hay nhất)

Wiki về Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến

(hay nhất)

Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến

(hay nhất) -

Tuyển chọn những bài văn hay chủ đề phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng. Các bài văn mẫu được tổng hợp từ các bài viết hay, xuất sắc của các bạn học trò trên cả nước. Mời các em cùng tham khảo nhé!

Dàn ý Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến

1. Mở bài

– Giới thiệu sơ lược về tác giả, tác phẩm

+ Quang Dũng thuộc thế hệ các thi sĩ miền Bắc trưởng thành và nổi danh sau Cách mệnh tháng Tám.

+ Bài thơ Tây Tiến được viết vào năm 1948 ở Phù Lưu Chanh (Hà Tây), lúc Quang Dũng đã chuyển về đơn vị khác và nhớ về đơn vị cũ là đoàn quân Tây Tiến.

– Nói chung 8 câu thơ đầu: đoạn thơ dựng lại tuyến đường hành quân giữa núi rừng Tây Bắc hiểm trở, khắc nghiệt, hùng vĩ và thơ mộng.

2. Thân bài

* Nỗi nhớ về núi rừng Tây Bắc và đơn vị tranh đấu cũ (hai câu đầu)

– Nỗi nhớ là xúc cảm chủ đạo xuyên suốt bài thơ, đoạn thơ.

– Nỗi nhớ đấy như dâng trào ko gì có thể kiểm soát được nên đã cất lên thành tiếng gọi:

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”

+ Từ láy “chơi vơi”: gợi hình, gợi cảm => nỗi nhớ da diết, cháy bỏng như có hình, có khối gợi lên một ko gian rộng lớn, thời kì sâu thẳm.

– Hình ảnh núi rừng trùng điệp, hoang vu và tuyến đường hành quân khó khăn của người lính

   + Hình ảnh dốc, đèo, vực thẳm, rừng dày và tuyến đường hành quân cheo leo dần xuất hiện

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi

   + Những địa danh: Sài Khao, Mường Lát gợi lên ko gian hoang vu nơi xứ lạ

   + Cảm giác mỏi mệt của người lính như được xua đi bởi hình ảnh đầy thơ mộng trong đêm của Mường Lát.

   + Câu thơ “Mường Lát hoa về trong đêm hơi” : tạo ra nhiều nét nghĩa không giống nhau, trong đó có thể hiểu đây là cách tả cảnh đoàn quân đốt đuốc đi trong đêm mịt mù hơi sương trông như những bông hoa.

   + Thanh bằng: gợi cảm giác lâng lâng, chơi vơi, tài hoa và lãng mạn. Quang cảnh núi rừng hiểm trở.

* Trục đường hành quân khó khăn của người lính:

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thăm

Hẻo lánh cồn mây súng ngửi trời

Nghìn thước lên cao, nghìn thước xuống

Nhà người nào Pha Luông mưa xa khơi

– Hai câu đầu: diễn tả độ cao vút trời vào sự cheo leo hẻo lánh của núi đèo Tây Bắc.

    + Từ láy tạo hình: “khúc khuỷu”, “thăm thẳm”, “hẻo lánh”… được sử dụng với mật độ cao

    + Thủ pháp điệp từ, đối lập được khai thác triệt để

  • “Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm” : nghe như tiếng thở nặng nhọc của người lính.    

  • “súng ngửi trời” : trình bày tâm hồn sáng sủa yêu đời, thử thách với khó khăn, nguy hiểm của người lính.

– Hai câu sau:

    + Câu thứ ba có sự ngắt nhịp ở giữa như bẻ đôi => diễn tả hai sườn núi vút lên, đổ xuống gần như thẳng đứng

    + Câu thơ thứ tư toàn thanh bằng => tạo cảm giác lâng lâng, chơi vơi

=> Tây Bắc dữ dội, hoang vu được mở rộng ra theo chiều ko gian: theo những địa danh xứ lạ như Sài Khao, Mường Lát…

3. Kết bài

– Nói chung lại trị giá nội dung và nghệ thuật của 8 câu thơ đầu: Hình ảnh núi rừng Tây Bắc hùng vĩ, đầy nguy hiểm nhưng cũng rất nên thơ. Hình ảnh đoàn quân trên đường hành quân mang vẻ đẹp bi tráng.

– Gợi mở thêm vấn đề.

Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến – Bài mẫu 1

         Quang Dũng là một trong những thi sĩ chiến sĩ tiêu biểu của thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Ông đặc thù thành công lúc viết về đề tài người lính trí thức tiểu tư sản hào hoa, phong nhã. Một trong những bài thơ nổi tiếng viết về người lính là bài thơ Tây Tiến.

          Cảm hứng chủ đạo trong suốt bài thơ là cảm hứng về nỗi nhớ. Đó là nỗi nhớ khó phai của đời người lính Tây Tiến được khắc hoạ thành công ở tám câu đầu của bài thơ

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi

Nhà người nào Pha Luông mưa xa khơi”

         Tây Tiến là 1 trong những bài thơ hay, tiêu biểu của Quang Dũng. Nhắc tới thi sĩ, ko người nào ko thể ko nhớ tới Tây Tiến. Bài thơ được sáng tác cuối năm 1948 lúc thi sĩ đóng quân ở Phù Lưu Chanh – 1 làng ven bờ sông Đáy, nhớ về đơn vị cũ ông đã viết nên bài thơ. Lúc đầu, ông đặt bài thơ là Nhớ Tây Tiến nhưng về sau đổi lại thành Tây Tiến vì thi sĩ cho rằng chỉ với 2 từ Tây Tiến cũng đủ đã gợi lên nỗi nhớ là cảm hứng chủ đạo chứ ko cần tới từ “nhớ”

          Là 1 người lính trẻ hào hoa, lãng mạn ra đi theo tiếng gọi của tổ quốc, sống và tranh đấu nơi núi rừng khó khăn nhưng chất thi sĩ vẫn trào dâng mãnh liệt trong lòng thi sĩ. 1 thời gắn bó sâu đậm với Tây Tiến, với đồng chí, với núi rừng đã làm cho ông ko khỏi bổi hổi, xúc động lúc nỗi nhớ về Tây Tiến dâng trào trong kí ức của thi sĩ.

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi”

         Câu thơ như tiếng gọi thành tâm, tha thiết xuất phát từ trái tim và tâm hồn người thi sĩ. Bằng cách sử dụng câu cảm thán mở đầu bài thơ, Quang Dũng đã gọi tên cảm hứng chủ đạo của bài thơ là nỗi nhớ cồn cào, da diết về núi rừng Tây Bắc. bằng thủ pháp nghệ thuật nhân hoá, câu thơ trở thành đẹp diệu kỳ. “Sông Mã” ko thuần tuý là 1 con sông nhưng nó đã trở thành 1 hình ảnh hiện hữu, 1 chứng nhân lịch sử trong suốt cuộc đời người lính Tây Tiến với bao nỗi vui buồn, được mất. “Tây Tiến” ko chỉ để gọi tên 1 đơn vị quân nhân nhưng nó đã trở thành 1 người bạn ” tri kỉ tri kỷ” để thi sĩ thổ lộ tâm tình

“Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”

         Câu thơ thứ 2 với điệp từ “nhớ” được lặp lại 2 lần đã diễn tả nỗi nhớ quay quắt, cồn cào đang ùa vào tâm trí Quang Dũng. tính từ “chơi vơi” liên kết với từ “nhớ” đã khắc sâu được tình cảm nhớ nhung da diết của thi sĩ và nỗi nhớ đó như 1 cơn thác lũ tràn vào tâm trí thi sĩ đã đẩy ông vào trạng thái bồng bềnh, hư ảo. 2 câu đầu với cách dùng từ tuyển lựa, gợi hình gợi cảm đã mở cửa cho nỗi nhớ trào dâng mãnh liệt trong tâm hồn thi sĩ

“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Hẻo lánh cồn mây súng ngửi trời”

          Quang Dũng đã liệt kê hàng loạt các địa danh như: Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông… Đó là địa bàn hoạt động của binh đoàn Tây Tiến, những nơi họ đi qua và ngừng chân trên bước đường hành quân khó khăn, nhọc nhằn. Nói tới Tây Bắc, là nói tới vùng đất có địa hình hiểm trở, khí hậu khắc nghiệt. Có những đêm dài hành quân người lính Tây Tiến vất vả đi trong đêm dày đặc sương giăng, ko nhìn rõ mặt nhau. “Đoàn quân mỏi” nhưng ý thức ko “mỏi”. Bởi ý chí quyết tâm ra đi vì tổ quốc đã làm cho những trí thức Hà thành yêu nước trở thành kiên cường, quật cường hơn. Quang Dũng đã rất tài tình lúc đưa hình ảnh “sương” vào đây để khắc hoạ hơn sự khắc nghiệt của núi rừng Tây Bắc trong những đêm dài lạnh lẽo. Cũng mô tả về “sương”, Chế Lan Viên cũng đã viết trong “Tiếng hát con tàu”:

“Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ

Nơi nao qua lòng lại chẳng mến thương

Lúc ta ở chỉ là nơi đất ở

Lúc ta đi đất đã hoá tâm hồn”

         Có nhẽ tự nhiên rất gắn bó với người lính Tây Bắc nên nó đã trở thành 1 kí ức khó phai trong lòng thi sĩ. Tự nhiên tuy có đẹp nhưng cũng rất hiểm trở. Có những lúc người lính Tây Tiến phải vất vả để trèo lên đỉnh chạm tới mây trời. Quang Dũng đã khôn khéo sử dụng từ “thăm thẳm” nhưng ko dùng từ chót vót” bởi nói “chót vót” người ta còn có thể cảm nhận và thấy được bề sâu của nó nhưng “thăm thẳm” thì khó có người nào có thể tưởng tượng được nó sâu thế nào. Bằng những từ láy gợi hình ảnh rất cao như “khúc khuỷu”, “thăm thẳm”, “hẻo lánh”, thi sĩ đã làm cho người đọc cảm thu được cái hoang vu, dữ dội của núi rừng Tây Bắc. Thi sĩ cũng rất trẻ trung, tinh nghịch lúc đưa hình ảnh nhân hóa, ẩn dụ ” súng ngửi trời” để cho ta thấy kế bên tự nhiên hiểm trở còn hiện lên hình ảnh người lính với tư thế uy phong lẫm liệt nơi núi rừng hoang vu. Câu thơ sử dụng nhiều thanh trắc đã tạo nên vẻ gân guốc, nhọc nhằn đã nhấn mạnh được cảnh quang tự nhiên Tây Bắc thật cheo leo, hiểm trở

“Nghìn thước lên cao nghìn thước xuống”

         Điệp từ “nghìn thước” đã mở ra 1 ko gian nhìn từ trên xuống cũng như từ dưới lên thật hùng vĩ, giăng mắc. Kế bên cái hiểm trở, hoang vu ta cũng thấy được vẻ đẹp trữ tình nơi núi rừng:

“Nhà người nào Pha Luông mưa xa khơi”

         Có những cơn mưa rừng chợt tới đã để lại bao giá rét cho người lính Tây Tiến. Nhưng dưới ngòi bút của Quang Dũng, nó trở thành lãng mạn, trữ tình hơn. Thi sĩ đã thông minh, thông minh lúc nói tới mưa rừng bằng cụm từ “mưa xa khơi”. Nó gợi lên 1 cái gì đó rất kỳ bí, hoang vu giữa chốn núi rừng. Câu thơ thứ 8 nhiều thanh bằng như làm dịu đi vẻ dữ dội, hiểm trở của núi rừng và mở ra 1 bức tranh tự nhiên nơi núi rừng đầy lãng mạn. 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến là nỗi nhớ về núi rừng Tây Bắc, về đồng chí Tây Tiến nhưng qua những cụ thể đặc tả về tự nhiên núi rừng Tây Bắc, nó đã trở thành 1 kí ức xa xôi trong tâm trí thi sĩ. Đó là 1 nỗi nhớ mãnh liệt của người lính Tây Tiến nói riêng và của những người lính nói chung.

         Bài thơ “Tây Tiến” dưới ngòi bút của lãng mạn, trữ tình của Quang Dũng đã trở thành 1 tuyệt bút của mọi thời đại. Cảm hứng chủ đạo xuyên suốt bài thơ đó là cảm hứng về nỗi nhớ. Quang Dũng đã mô tả nỗi nhớ đó bằng ngòi bút tài tình giàu chất nhạc, chất họa và đậm chất thơ. Bài thơ là 1 khúc nhạc của tâm hồn, của cuộc sống. Cho nên, Xuân Diện thật chuẩn xác lúc cho rằng đọc bài thơ “Tây Tiến” như đang ngậm âm nhạc trong mồm. Bài thơ hay bởi lẽ nó được viết nên từ ngòi bút hào hoa, lãng mạn và của 1 người lính Tây Tiến nên nó có 1 cái rất riêng và đẹp. Mang chất lính nên Quang Dũng mới có thể viết nên những vần thơ hay như thế.

          “Tây Tiến” là 1 bài thơ hay được viết nên bởi tâm hồn, tài hoa, lãng mạn của người lính trí thức tiểu tư sản Quang Dũng. Bài thơ như 1 bức tượng đài bất tử đã tạc vào nền văn học Việt Nam hình ảnh những người lính trí thức yêu nước vô danh. Bài thơ xứng đáng được xem là tuyệt bút của Quang Dũng lúc viết về người lính trí thức tiểu tư sản hào hoa, phong nhã.

Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến – Bài mẫu 2

         Trong dòng chảy thi ca Việt Nam, thơ ca cách mệnh là một thời kì để lại được nhiều dấu ấn với những thi phẩm rực rỡ như Lên Tây Bắc, Tung hô chiến sĩ Điện Biên, Việt Bắc (Tố Hữu), Đồng chí (Chính Hữu), Quốc gia (Nguyễn Đình Thi),… Nhưng bài thơ được coi là “đứa con đầu lòng hào hoa và tráng kiện của thơ ca kháng chiến chống Pháp” chính là Tây Tiến của Quang Dũng. Bài thơ ko chỉ tái tạo lại những tháng năm kháng chiến của đoàn quân Tây Tiến nhưng còn khắc họa được bức tranh tự nhiên Tây Bắc vừa hùng vĩ nhưng lại vừa lãng mạn nên thơ. 8 câu thơ trước hết đã gây ấn tượng mạnh mẽ với độc giả về hình ảnh tự nhiên núi rừng Tây Bắc.

           Bài thơ Tây Tiến được sáng tác năm 1948 tại Phù Lưu Chanh, đơn vị nhưng Quang Dũng chuyển công việc tới sau lúc kết thúc quãng thời kì một năm gắn bó cùng sát cánh, kề vai với đồng chí của quân đoàn Tây Tiến. Trong nỗi nhớ khôn nguôi về đồng chí và núi rừng Tây Bắc, thi sĩ đã ko kìm được lòng mình, để tiếng nói của trái tim cất lên thành trang thơ. 8 câu thơ trước hết như một thước phim sống động tái tạo lại cảnh tự nhiên Tây Bắc hùng vĩ và hiểm trở khôn xiết.

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”

          Hình ảnh con sông Mã hiện lên là một hình ảnh gắn liền với địa bàn hoạt động của đoàn quân Tây Tiến, là chứng nhân của một thời dậy vang, máu lửa. Tiếng gọi “Tây Tiến ơi” thân yêu, da diết như tiếng gọi một người bạn hữu đã lâu ngày xa cách. Điệp từ “nhớ” trong một câu toàn thanh bằng nhưng một nốt nhấn cao độ trong bản nhạc trầm, nỗi nhớ dường như luôn túc trực trong lòng thi sĩ bỗng trào dâng, lên tiếng. Hai câu thơ gieo vần “ơi” liên kết với tính từ “chơi vơi” vang lên, làm cho lòng ta cũng bỗng dưng lâng lâng, lửng lơ song lại ắp đầy, tuy nhẹ nhưng lại lắng sâu. Có nhẽ chính bởi vậy, cho dù thi sĩ đã bỏ đi một chữ “nhớ” trong tiêu đề lúc đầu của tác phẩm (“Nhớ Tây Tiến”) thì xúc cảm cũng vẫn ko thôi dào dạt. Nỗi nhớ trào dâng dường như thấm đẫm trong cảnh vật trên đường hành quân, trong những kỉ niệm của một thời kháng chiến. Tất cả một vùng ký ức sống lại, nồng nàn và thân yêu, thiết tha và trọn vẹn tựa như một thước phim quay chậm, rồi từng nét cảnh núi rừng hiện lên trong bao ngày gian lao, từng khoảnh khắc gian nan bên đồng chí anh em, từng dáng hình của người sơn nữ dáng duyên, và cả hơi cơm thanh đạm nhưng ấm nồng tình quân dân cá nước,… cứ thế nhưng hiện lên đong đầy.

         Tiếp nối hai câu thơ khắc hoạ nỗi nhớ, quang cảnh tự nhiên Tây Bắc khởi đầu xuất hiện, trước hết là những địa danh, những địa bàn hoạt động nhưng đội quân đã từng một thời gắn bó.

“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi”

         “Sài Khao”, “Mường Lát” là tên của những bản núi mù sương, nghe tuy xa lạ, nhưng lại là những cái tên đã đồng hành cùng người lính Tây Tiến suốt những tháng năm kháng chiến. Hai câu thơ như gợi nhắc tới một nơi xa xôi bí mật nào đó và cũng chính sự bí mật đấy lại quyến rũ vô cùng. “Sương lấp đoàn quân mỏi” là cụ thể tả thực khắc họa những trắc trở gian nan nhưng người lính Tây Tiến gặp phải trên tuyến đường hành quân. Tự nhiên núi rừng miền cao ẩn chứa biết bao những thử thách gian nan là thế nhưng vẫn có ở đâu đây những nét đẹp thơ mộng. Thi sĩ sử dụng hai từ “đêm hơi” chứ ko phải “đêm sương”, là một đêm mờ hơi sương, đêm của hơi núi rừng, hay là một đêm nhẹ như hơi thở. Hai chữ “đêm hơi” gợi nhiều hơn tả, nó như phác lên trong tâm trí của người đọc những nét vẽ thật mơ hồ, ảo diệu, dường như lại chẳng nhìn thấy nhưng chỉ có thể cảm nhận. Trong ko gian kì ảo nên thơ, hình ảnh “hoa về” như điểm nhấn cho cảm hứng lãng mạn. “Hoa” là những bông hoa trên tay trên vai trên áo trên mũ người lính trên đường hành quân, là hoa lửa hoa đuốc sáng soi dẫn đường trong đêm tối, hay phải chăng “hoa” lại chính là người con gái người thôn nữ miền sơn cước đi về trong miền nhớ, miền thương thẳm sâu trong tâm hồn người chiến sĩ.

          Nói tới Tây Bắc, ta ko thể ko nghĩ tới tự nhiên hùng vĩ, có phần hiểm trở. Những núi cao, dốc thẳm luôn là những trở ngại trên tuyến đường hành quân của những người lính trẻ.

“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Hẻo lánh cồn mây súng ngửi trời

Nghìn thước lên cao nghìn thước xuống”

         Điệp từ “dốc”, “nghìn thước” liên kết với các giàu tính gợi hình ” khúc khuỷu”, “thăm thẳm”, “hẻo lánh” và thủ pháp tương phản đối lập “lên – xuống”, đối xứng giữa hai tiểu vế đã khắc hoạ quang cảnh tự nhiên trùng điệp, núi tiếp núi, đèo nối đèo, lên cao chót vót rồi bỗng dưng lại dốc xuống tận cùng như muốn thử thách lòng gan góc và ý chí kiên cường của người lính Tây Tiến. Trong giờ phút gian lao đấy, hình ảnh “súng ngửi trời” hiện lên thật thi vị. Đây quả là một cái nhìn hóm hỉnh, thú vị của người chiến sĩ, nó như phá tan đi cái nhọc nhằn của quãng đường hành quân đầy gian lao. Trong bài thơ “Đồng chí”, Chính Hữu cũng đã từng ghi lại hình ảnh “đầu súng trăng treo”. Đây đều là những hình ảnh tả thực, lúc những người lính hành quân, họ luôn vác súng trên vai, đầu súng hướng lên, ở một góc độ nào đó, như thể súng đang chạm tới trời, như đang treo mảnh trăng sáng của đêm rừng canh gác. Chính qua những hình ảnh đó, nhưng ta như nhìn vào được tâm hồn của họ, họ cũng mang một trái tim trẻ trung, cũng thơ mộng chứ ko hề chai sạn giữa những gian nan thử thách nơi chiến trường gay cấn, khốc liệt. Và dường như, lúc đã vượt qua hết những chặng gian lao, người lính như thở phào nhẹ nhõm, đứng nơi đỉnh cao, phóng tầm mắt ra xa

“Nhà người nào Pha Luông mưa xa khơi”

         Sau 3 câu thơ liên tục đặc tả cảnh tự nhiên hùng vĩ hiểm trở, thi sĩ sử dụng một câu thơ toàn vần bằng gợi lên quang cảnh yên bình, thơ mộng. Thì ra, Tây Bắc ngoài những đèo cao dốc thẳm cũng có những góc lãng mạn, nên thơ tới thế, nhưng có nhẽ, chỉ có người nào đã từng gắn bó thân thuộc với nơi đây mới có thể khám phá nên nhưng thôi.

         Bằng sự hiểu biết thâm thúy là ngòi bút hào hoa phóng khoáng, Quang Dũng đã khắc họa hình ảnh tự nhiên Tây Tiến thật hùng vĩ nhưng cũng rất đỗi nên thơ. Đoạn thơ đã góp một phần ko nhỏ vào thành công của tác phẩm nói riêng và văn thơ cách mệnh nói chung, để Tây Tiến trở thành một bông hoa mãi tươi xanh trong dòng chảy của thời kì.

Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến – Bài mẫu 3

Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến | 900 bài Văn mẫu 12 hay nhất (ảnh 3)

         Tám câu thơ đầu đã vẽ nên bức tranh tự nhiên Tây Bắc hùng vĩ, dữ dội, đồng thời đó cũng là thử thách nguy hiểm trên chặng đường hành quân của binh đoàn Tây Tiến.

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”

         Nỗi thương nhớ ko chỉ còn là những rung động trong tâm tưởng nhưng đã ngân vang nhẹ nhõm, tha thiết, trải rộng ra ko gian, thời kì. Hình ảnh trước hết gợi về trong tâm trí thi sĩ là hình ảnh sông Mã- dòng sông rộng dài, hùng vĩ gắn liền với Tây Tiến. Nhớ về tự nhiên hùng vĩ, tráng lệ cũng là lúc nỗi nhớ về đồng đội- những người kề vai sát cánh năm xưa trỗi dậy. Sâu thăm trong 3 tiếng “Tây Tiến ơi” còn là tiếng gọi một người bạn, một người thân, một người tri kỷ, gọi về cả một sự gắn bó quân dân thắm thiết. Nhưng giờ đây, cả sông Mã và Tây Tiến đều đã “xa rồi”, đó là hiện thực mất mát phải đương đầu. Nhưng cũng vì xa rồi nên mới hoài niệm, mới da diết, thương nhớ tới thế. Đối với Quang Dũng, mỗi tên gọi là một phần kí ức – nơi cất giấu quãng tâm hồn mình, là địa chỉ tìm về của nỗi nhớ. Nỗi “nhớ chơi vơi”- một thông minh ngôn từ lạ mắt của riêng Quang Dũng. Với thi sĩ, nhớ Tây Tiến ko dữ dội, cuộn lòng nhưng cứ mênh mang, tha thiết, ám ảnh dư vang. Nhưng giờ đây tất cả chỉ là kỉ niệm vì “Sông Mã xa rồi”- đó là sự ý thức của nhân vật trữ tình về hiện thực phũ phàng, khắc nghiệt, Nhưng càng xa càng nhớ, nỗi nhớ cứ đong đầy, đọng lại bao dư ba. Nỗi nhớ mỗi lúc một hiện rõ qua nỗi nhớ của thi sĩ.

“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Hẻo lánh cồn mây, súng ngửi trời

Nghìn thước lên cao, nghìn thước xuống

Nhà người nào Pha Luông mưa xa khơi”

         Đoạn thơ hiện lên một loạt những địa danh. Sài Khao, Pha Luông hay Mường Hịch đều là những cái tên xa lạ mới mẻ với những chàng trai Hà thành. Vậy nhưng bước vào cuộc kháng chiến,ko một tẹo e ngại, ko một tẹo sợ sệt, họ vẫn ngày ngày hành quân trên những cung đường xa lạ đấy, dưới màn sương giăng trắng trời, lạnh lẽo cản trở tầm nhìn. Quang Dũng tái tạo cung đường Tây Bắc qua hệ thống từ láy rực rỡ “hẻo lánh, khúc khuỷu, thăm thẳm”. Mọi nguy hại, hiểm trở đều hiện lên sắc nét qua từng câu, từng chữ. Đó là cái lồi lõm, trắc trở của dốc thẳng, là cái chót vót của đèo cao và sự tun hút của những vực sâu vô tận. Tất cả đã góp phần hiện lên cái hùng vĩ, dữ dội nhưng cũng tràn đầy nguy hiểm của tự nhiên Tây Bắc. Nhưng những trắc trở đấy ko khiến họ chùn bước. Ở đoạn thơ, ta vẫn bắt gặp chút phảng phất của một tâm hồn lãng mạn, hào hoa. Trong những đêm hành quân khó khăn, họ vẫn nghĩ về hoa, về những mái nhà, từ đó thấy được tâm hồn trẻ trung, sáng sủa, ko đầu hàng trước khó khăn của những người lính.

…/…

Từ dàn ý Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến nhưng Top loigiai đã hướng dẫn trên đây, các em hãy vận dụng tri thức đã học, liên kết với cách hành văn của mình để làm thành một bài viết hoàn chỉnh nhé. Ngoài ra, chúng tôi thường xuyên cập nhật những bài văn mẫu lớp 12 hay nhất phục vụ việc học văn của các em. Chúc các em luôn học vui và học tốt!

Đăng bởi: Trường THPT Diễn Châu 2

Phân mục: Lớp 12, Ngữ Văn 12

[rule_{ruleNumber}]

#Phân #tích #câu #thơ #đầu #của #bài #thơ #Tây #Tiến #hay #nhất

[rule_3_plain]

#Phân #tích #câu #thơ #đầu #của #bài #thơ #Tây #Tiến #hay #nhất

Tuyển chọn những bài văn hay chủ đề phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng. Các bài văn mẫu được tổng hợp từ các bài viết hay, xuất sắc của các bạn học trò trên cả nước. Mời các em cùng tham khảo nhé!
Xem nhanh nội dung1 Dàn ý Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến2 Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến – Bài mẫu 13 Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến – Bài mẫu 24 Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến – Bài mẫu 3
Dàn ý Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến

1. Mở bài
– Giới thiệu sơ lược về tác giả, tác phẩm
+ Quang Dũng thuộc thế hệ các thi sĩ miền Bắc trưởng thành và nổi danh sau Cách mệnh tháng Tám.
+ Bài thơ Tây Tiến được viết vào năm 1948 ở Phù Lưu Chanh (Hà Tây), lúc Quang Dũng đã chuyển về đơn vị khác và nhớ về đơn vị cũ là đoàn quân Tây Tiến.

– Nói chung 8 câu thơ đầu: đoạn thơ dựng lại tuyến đường hành quân giữa núi rừng Tây Bắc hiểm trở, khắc nghiệt, hùng vĩ và thơ mộng.
2. Thân bài
* Nỗi nhớ về núi rừng Tây Bắc và đơn vị tranh đấu cũ (hai câu đầu)
– Nỗi nhớ là xúc cảm chủ đạo xuyên suốt bài thơ, đoạn thơ.
– Nỗi nhớ đấy như dâng trào ko gì có thể kiểm soát được nên đã cất lên thành tiếng gọi:
“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”
+ Từ láy “chơi vơi”: gợi hình, gợi cảm => nỗi nhớ da diết, cháy bỏng như có hình, có khối gợi lên một ko gian rộng lớn, thời kì sâu thẳm.
– Hình ảnh núi rừng trùng điệp, hoang vu và tuyến đường hành quân khó khăn của người lính
   + Hình ảnh dốc, đèo, vực thẳm, rừng dày và tuyến đường hành quân cheo leo dần xuất hiện
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
   + Những địa danh: Sài Khao, Mường Lát gợi lên ko gian hoang vu nơi xứ lạ
   + Cảm giác mỏi mệt của người lính như được xua đi bởi hình ảnh đầy thơ mộng trong đêm của Mường Lát.
   + Câu thơ “Mường Lát hoa về trong đêm hơi” : tạo ra nhiều nét nghĩa không giống nhau, trong đó có thể hiểu đây là cách tả cảnh đoàn quân đốt đuốc đi trong đêm mịt mù hơi sương trông như những bông hoa.
   + Thanh bằng: gợi cảm giác lâng lâng, chơi vơi, tài hoa và lãng mạn. Quang cảnh núi rừng hiểm trở.
* Trục đường hành quân khó khăn của người lính:
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thăm
Hẻo lánh cồn mây súng ngửi trời
Nghìn thước lên cao, nghìn thước xuống
Nhà người nào Pha Luông mưa xa khơi
– Hai câu đầu: diễn tả độ cao vút trời vào sự cheo leo hẻo lánh của núi đèo Tây Bắc.
    + Từ láy tạo hình: “khúc khuỷu”, “thăm thẳm”, “hẻo lánh”… được sử dụng với mật độ cao
    + Thủ pháp điệp từ, đối lập được khai thác triệt để

“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm” : nghe như tiếng thở nặng nhọc của người lính.    

“súng ngửi trời” : trình bày tâm hồn sáng sủa yêu đời, thử thách với khó khăn, nguy hiểm của người lính.

– Hai câu sau:
    + Câu thứ ba có sự ngắt nhịp ở giữa như bẻ đôi => diễn tả hai sườn núi vút lên, đổ xuống gần như thẳng đứng
    + Câu thơ thứ tư toàn thanh bằng => tạo cảm giác lâng lâng, chơi vơi
=> Tây Bắc dữ dội, hoang vu được mở rộng ra theo chiều ko gian: theo những địa danh xứ lạ như Sài Khao, Mường Lát…
3. Kết bài
– Nói chung lại trị giá nội dung và nghệ thuật của 8 câu thơ đầu: Hình ảnh núi rừng Tây Bắc hùng vĩ, đầy nguy hiểm nhưng cũng rất nên thơ. Hình ảnh đoàn quân trên đường hành quân mang vẻ đẹp bi tráng.
– Gợi mở thêm vấn đề.
Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến – Bài mẫu 1

         Quang Dũng là một trong những thi sĩ chiến sĩ tiêu biểu của thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Ông đặc thù thành công lúc viết về đề tài người lính trí thức tiểu tư sản hào hoa, phong nhã. Một trong những bài thơ nổi tiếng viết về người lính là bài thơ Tây Tiến.
          Cảm hứng chủ đạo trong suốt bài thơ là cảm hứng về nỗi nhớ. Đó là nỗi nhớ khó phai của đời người lính Tây Tiến được khắc hoạ thành công ở tám câu đầu của bài thơ
“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi
Nhà người nào Pha Luông mưa xa khơi”
         Tây Tiến là 1 trong những bài thơ hay, tiêu biểu của Quang Dũng. Nhắc tới thi sĩ, ko người nào ko thể ko nhớ tới Tây Tiến. Bài thơ được sáng tác cuối năm 1948 lúc thi sĩ đóng quân ở Phù Lưu Chanh – 1 làng ven bờ sông Đáy, nhớ về đơn vị cũ ông đã viết nên bài thơ. Lúc đầu, ông đặt bài thơ là Nhớ Tây Tiến nhưng về sau đổi lại thành Tây Tiến vì thi sĩ cho rằng chỉ với 2 từ Tây Tiến cũng đủ đã gợi lên nỗi nhớ là cảm hứng chủ đạo chứ ko cần tới từ “nhớ”
          Là 1 người lính trẻ hào hoa, lãng mạn ra đi theo tiếng gọi của tổ quốc, sống và tranh đấu nơi núi rừng khó khăn nhưng chất thi sĩ vẫn trào dâng mãnh liệt trong lòng thi sĩ. 1 thời gắn bó sâu đậm với Tây Tiến, với đồng chí, với núi rừng đã làm cho ông ko khỏi bổi hổi, xúc động lúc nỗi nhớ về Tây Tiến dâng trào trong kí ức của thi sĩ.
“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi”
         Câu thơ như tiếng gọi thành tâm, tha thiết xuất phát từ trái tim và tâm hồn người thi sĩ. Bằng cách sử dụng câu cảm thán mở đầu bài thơ, Quang Dũng đã gọi tên cảm hứng chủ đạo của bài thơ là nỗi nhớ cồn cào, da diết về núi rừng Tây Bắc. bằng thủ pháp nghệ thuật nhân hoá, câu thơ trở thành đẹp diệu kỳ. “Sông Mã” ko thuần tuý là 1 con sông nhưng nó đã trở thành 1 hình ảnh hiện hữu, 1 chứng nhân lịch sử trong suốt cuộc đời người lính Tây Tiến với bao nỗi vui buồn, được mất. “Tây Tiến” ko chỉ để gọi tên 1 đơn vị quân nhân nhưng nó đã trở thành 1 người bạn ” tri kỉ tri kỷ” để thi sĩ thổ lộ tâm tình
“Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”
         Câu thơ thứ 2 với điệp từ “nhớ” được lặp lại 2 lần đã diễn tả nỗi nhớ quay quắt, cồn cào đang ùa vào tâm trí Quang Dũng. tính từ “chơi vơi” liên kết với từ “nhớ” đã khắc sâu được tình cảm nhớ nhung da diết của thi sĩ và nỗi nhớ đó như 1 cơn thác lũ tràn vào tâm trí thi sĩ đã đẩy ông vào trạng thái bồng bềnh, hư ảo. 2 câu đầu với cách dùng từ tuyển lựa, gợi hình gợi cảm đã mở cửa cho nỗi nhớ trào dâng mãnh liệt trong tâm hồn thi sĩ
“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Hẻo lánh cồn mây súng ngửi trời”
          Quang Dũng đã liệt kê hàng loạt các địa danh như: Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông… Đó là địa bàn hoạt động của binh đoàn Tây Tiến, những nơi họ đi qua và ngừng chân trên bước đường hành quân khó khăn, nhọc nhằn. Nói tới Tây Bắc, là nói tới vùng đất có địa hình hiểm trở, khí hậu khắc nghiệt. Có những đêm dài hành quân người lính Tây Tiến vất vả đi trong đêm dày đặc sương giăng, ko nhìn rõ mặt nhau. “Đoàn quân mỏi” nhưng ý thức ko “mỏi”. Bởi ý chí quyết tâm ra đi vì tổ quốc đã làm cho những trí thức Hà thành yêu nước trở thành kiên cường, quật cường hơn. Quang Dũng đã rất tài tình lúc đưa hình ảnh “sương” vào đây để khắc hoạ hơn sự khắc nghiệt của núi rừng Tây Bắc trong những đêm dài lạnh lẽo. Cũng mô tả về “sương”, Chế Lan Viên cũng đã viết trong “Tiếng hát con tàu”:
“Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ
Nơi nao qua lòng lại chẳng mến thương
Lúc ta ở chỉ là nơi đất ở
Lúc ta đi đất đã hoá tâm hồn”
         Có nhẽ tự nhiên rất gắn bó với người lính Tây Bắc nên nó đã trở thành 1 kí ức khó phai trong lòng thi sĩ. Tự nhiên tuy có đẹp nhưng cũng rất hiểm trở. Có những lúc người lính Tây Tiến phải vất vả để trèo lên đỉnh chạm tới mây trời. Quang Dũng đã khôn khéo sử dụng từ “thăm thẳm” nhưng ko dùng từ chót vót” bởi nói “chót vót” người ta còn có thể cảm nhận và thấy được bề sâu của nó nhưng “thăm thẳm” thì khó có người nào có thể tưởng tượng được nó sâu thế nào. Bằng những từ láy gợi hình ảnh rất cao như “khúc khuỷu”, “thăm thẳm”, “hẻo lánh”, thi sĩ đã làm cho người đọc cảm thu được cái hoang vu, dữ dội của núi rừng Tây Bắc. Thi sĩ cũng rất trẻ trung, tinh nghịch lúc đưa hình ảnh nhân hóa, ẩn dụ ” súng ngửi trời” để cho ta thấy kế bên tự nhiên hiểm trở còn hiện lên hình ảnh người lính với tư thế uy phong lẫm liệt nơi núi rừng hoang vu. Câu thơ sử dụng nhiều thanh trắc đã tạo nên vẻ gân guốc, nhọc nhằn đã nhấn mạnh được cảnh quang tự nhiên Tây Bắc thật cheo leo, hiểm trở
“Nghìn thước lên cao nghìn thước xuống”
         Điệp từ “nghìn thước” đã mở ra 1 ko gian nhìn từ trên xuống cũng như từ dưới lên thật hùng vĩ, giăng mắc. Kế bên cái hiểm trở, hoang vu ta cũng thấy được vẻ đẹp trữ tình nơi núi rừng:
“Nhà người nào Pha Luông mưa xa khơi”
         Có những cơn mưa rừng chợt tới đã để lại bao giá rét cho người lính Tây Tiến. Nhưng dưới ngòi bút của Quang Dũng, nó trở thành lãng mạn, trữ tình hơn. Thi sĩ đã thông minh, thông minh lúc nói tới mưa rừng bằng cụm từ “mưa xa khơi”. Nó gợi lên 1 cái gì đó rất kỳ bí, hoang vu giữa chốn núi rừng. Câu thơ thứ 8 nhiều thanh bằng như làm dịu đi vẻ dữ dội, hiểm trở của núi rừng và mở ra 1 bức tranh tự nhiên nơi núi rừng đầy lãng mạn. 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến là nỗi nhớ về núi rừng Tây Bắc, về đồng chí Tây Tiến nhưng qua những cụ thể đặc tả về tự nhiên núi rừng Tây Bắc, nó đã trở thành 1 kí ức xa xôi trong tâm trí thi sĩ. Đó là 1 nỗi nhớ mãnh liệt của người lính Tây Tiến nói riêng và của những người lính nói chung.
         Bài thơ “Tây Tiến” dưới ngòi bút của lãng mạn, trữ tình của Quang Dũng đã trở thành 1 tuyệt bút của mọi thời đại. Cảm hứng chủ đạo xuyên suốt bài thơ đó là cảm hứng về nỗi nhớ. Quang Dũng đã mô tả nỗi nhớ đó bằng ngòi bút tài tình giàu chất nhạc, chất họa và đậm chất thơ. Bài thơ là 1 khúc nhạc của tâm hồn, của cuộc sống. Cho nên, Xuân Diện thật chuẩn xác lúc cho rằng đọc bài thơ “Tây Tiến” như đang ngậm âm nhạc trong mồm. Bài thơ hay bởi lẽ nó được viết nên từ ngòi bút hào hoa, lãng mạn và của 1 người lính Tây Tiến nên nó có 1 cái rất riêng và đẹp. Mang chất lính nên Quang Dũng mới có thể viết nên những vần thơ hay như thế.
          “Tây Tiến” là 1 bài thơ hay được viết nên bởi tâm hồn, tài hoa, lãng mạn của người lính trí thức tiểu tư sản Quang Dũng. Bài thơ như 1 bức tượng đài bất tử đã tạc vào nền văn học Việt Nam hình ảnh những người lính trí thức yêu nước vô danh. Bài thơ xứng đáng được xem là tuyệt bút của Quang Dũng lúc viết về người lính trí thức tiểu tư sản hào hoa, phong nhã.
Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến – Bài mẫu 2
         Trong dòng chảy thi ca Việt Nam, thơ ca cách mệnh là một thời kì để lại được nhiều dấu ấn với những thi phẩm rực rỡ như Lên Tây Bắc, Tung hô chiến sĩ Điện Biên, Việt Bắc (Tố Hữu), Đồng chí (Chính Hữu), Quốc gia (Nguyễn Đình Thi),… Nhưng bài thơ được coi là “đứa con đầu lòng hào hoa và tráng kiện của thơ ca kháng chiến chống Pháp” chính là Tây Tiến của Quang Dũng. Bài thơ ko chỉ tái tạo lại những tháng năm kháng chiến của đoàn quân Tây Tiến nhưng còn khắc họa được bức tranh tự nhiên Tây Bắc vừa hùng vĩ nhưng lại vừa lãng mạn nên thơ. 8 câu thơ trước hết đã gây ấn tượng mạnh mẽ với độc giả về hình ảnh tự nhiên núi rừng Tây Bắc.
           Bài thơ Tây Tiến được sáng tác năm 1948 tại Phù Lưu Chanh, đơn vị nhưng Quang Dũng chuyển công việc tới sau lúc kết thúc quãng thời kì một năm gắn bó cùng sát cánh, kề vai với đồng chí của quân đoàn Tây Tiến. Trong nỗi nhớ khôn nguôi về đồng chí và núi rừng Tây Bắc, thi sĩ đã ko kìm được lòng mình, để tiếng nói của trái tim cất lên thành trang thơ. 8 câu thơ trước hết như một thước phim sống động tái tạo lại cảnh tự nhiên Tây Bắc hùng vĩ và hiểm trở khôn xiết.
“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”
          Hình ảnh con sông Mã hiện lên là một hình ảnh gắn liền với địa bàn hoạt động của đoàn quân Tây Tiến, là chứng nhân của một thời dậy vang, máu lửa. Tiếng gọi “Tây Tiến ơi” thân yêu, da diết như tiếng gọi một người bạn hữu đã lâu ngày xa cách. Điệp từ “nhớ” trong một câu toàn thanh bằng nhưng một nốt nhấn cao độ trong bản nhạc trầm, nỗi nhớ dường như luôn túc trực trong lòng thi sĩ bỗng trào dâng, lên tiếng. Hai câu thơ gieo vần “ơi” liên kết với tính từ “chơi vơi” vang lên, làm cho lòng ta cũng bỗng dưng lâng lâng, lửng lơ song lại ắp đầy, tuy nhẹ nhưng lại lắng sâu. Có nhẽ chính bởi vậy, cho dù thi sĩ đã bỏ đi một chữ “nhớ” trong tiêu đề lúc đầu của tác phẩm (“Nhớ Tây Tiến”) thì xúc cảm cũng vẫn ko thôi dào dạt. Nỗi nhớ trào dâng dường như thấm đẫm trong cảnh vật trên đường hành quân, trong những kỉ niệm của một thời kháng chiến. Tất cả một vùng ký ức sống lại, nồng nàn và thân yêu, thiết tha và trọn vẹn tựa như một thước phim quay chậm, rồi từng nét cảnh núi rừng hiện lên trong bao ngày gian lao, từng khoảnh khắc gian nan bên đồng chí anh em, từng dáng hình của người sơn nữ dáng duyên, và cả hơi cơm thanh đạm nhưng ấm nồng tình quân dân cá nước,… cứ thế nhưng hiện lên đong đầy.
         Tiếp nối hai câu thơ khắc hoạ nỗi nhớ, quang cảnh tự nhiên Tây Bắc khởi đầu xuất hiện, trước hết là những địa danh, những địa bàn hoạt động nhưng đội quân đã từng một thời gắn bó.
“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi”
         “Sài Khao”, “Mường Lát” là tên của những bản núi mù sương, nghe tuy xa lạ, nhưng lại là những cái tên đã đồng hành cùng người lính Tây Tiến suốt những tháng năm kháng chiến. Hai câu thơ như gợi nhắc tới một nơi xa xôi bí mật nào đó và cũng chính sự bí mật đấy lại quyến rũ vô cùng. “Sương lấp đoàn quân mỏi” là cụ thể tả thực khắc họa những trắc trở gian nan nhưng người lính Tây Tiến gặp phải trên tuyến đường hành quân. Tự nhiên núi rừng miền cao ẩn chứa biết bao những thử thách gian nan là thế nhưng vẫn có ở đâu đây những nét đẹp thơ mộng. Thi sĩ sử dụng hai từ “đêm hơi” chứ ko phải “đêm sương”, là một đêm mờ hơi sương, đêm của hơi núi rừng, hay là một đêm nhẹ như hơi thở. Hai chữ “đêm hơi” gợi nhiều hơn tả, nó như phác lên trong tâm trí của người đọc những nét vẽ thật mơ hồ, ảo diệu, dường như lại chẳng nhìn thấy nhưng chỉ có thể cảm nhận. Trong ko gian kì ảo nên thơ, hình ảnh “hoa về” như điểm nhấn cho cảm hứng lãng mạn. “Hoa” là những bông hoa trên tay trên vai trên áo trên mũ người lính trên đường hành quân, là hoa lửa hoa đuốc sáng soi dẫn đường trong đêm tối, hay phải chăng “hoa” lại chính là người con gái người thôn nữ miền sơn cước đi về trong miền nhớ, miền thương thẳm sâu trong tâm hồn người chiến sĩ.
          Nói tới Tây Bắc, ta ko thể ko nghĩ tới tự nhiên hùng vĩ, có phần hiểm trở. Những núi cao, dốc thẳm luôn là những trở ngại trên tuyến đường hành quân của những người lính trẻ.
“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Hẻo lánh cồn mây súng ngửi trời
Nghìn thước lên cao nghìn thước xuống”
         Điệp từ “dốc”, “nghìn thước” liên kết với các giàu tính gợi hình ” khúc khuỷu”, “thăm thẳm”, “hẻo lánh” và thủ pháp tương phản đối lập “lên – xuống”, đối xứng giữa hai tiểu vế đã khắc hoạ quang cảnh tự nhiên trùng điệp, núi tiếp núi, đèo nối đèo, lên cao chót vót rồi bỗng dưng lại dốc xuống tận cùng như muốn thử thách lòng gan góc và ý chí kiên cường của người lính Tây Tiến. Trong giờ phút gian lao đấy, hình ảnh “súng ngửi trời” hiện lên thật thi vị. Đây quả là một cái nhìn hóm hỉnh, thú vị của người chiến sĩ, nó như phá tan đi cái nhọc nhằn của quãng đường hành quân đầy gian lao. Trong bài thơ “Đồng chí”, Chính Hữu cũng đã từng ghi lại hình ảnh “đầu súng trăng treo”. Đây đều là những hình ảnh tả thực, lúc những người lính hành quân, họ luôn vác súng trên vai, đầu súng hướng lên, ở một góc độ nào đó, như thể súng đang chạm tới trời, như đang treo mảnh trăng sáng của đêm rừng canh gác. Chính qua những hình ảnh đó, nhưng ta như nhìn vào được tâm hồn của họ, họ cũng mang một trái tim trẻ trung, cũng thơ mộng chứ ko hề chai sạn giữa những gian nan thử thách nơi chiến trường gay cấn, khốc liệt. Và dường như, lúc đã vượt qua hết những chặng gian lao, người lính như thở phào nhẹ nhõm, đứng nơi đỉnh cao, phóng tầm mắt ra xa
“Nhà người nào Pha Luông mưa xa khơi”
         Sau 3 câu thơ liên tục đặc tả cảnh tự nhiên hùng vĩ hiểm trở, thi sĩ sử dụng một câu thơ toàn vần bằng gợi lên quang cảnh yên bình, thơ mộng. Thì ra, Tây Bắc ngoài những đèo cao dốc thẳm cũng có những góc lãng mạn, nên thơ tới thế, nhưng có nhẽ, chỉ có người nào đã từng gắn bó thân thuộc với nơi đây mới có thể khám phá nên nhưng thôi.
         Bằng sự hiểu biết thâm thúy là ngòi bút hào hoa phóng khoáng, Quang Dũng đã khắc họa hình ảnh tự nhiên Tây Tiến thật hùng vĩ nhưng cũng rất đỗi nên thơ. Đoạn thơ đã góp một phần ko nhỏ vào thành công của tác phẩm nói riêng và văn thơ cách mệnh nói chung, để Tây Tiến trở thành một bông hoa mãi tươi xanh trong dòng chảy của thời kì.
Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến – Bài mẫu 3

         Tám câu thơ đầu đã vẽ nên bức tranh tự nhiên Tây Bắc hùng vĩ, dữ dội, đồng thời đó cũng là thử thách nguy hiểm trên chặng đường hành quân của binh đoàn Tây Tiến.
“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”
         Nỗi thương nhớ ko chỉ còn là những rung động trong tâm tưởng nhưng đã ngân vang nhẹ nhõm, tha thiết, trải rộng ra ko gian, thời kì. Hình ảnh trước hết gợi về trong tâm trí thi sĩ là hình ảnh sông Mã- dòng sông rộng dài, hùng vĩ gắn liền với Tây Tiến. Nhớ về tự nhiên hùng vĩ, tráng lệ cũng là lúc nỗi nhớ về đồng đội- những người kề vai sát cánh năm xưa trỗi dậy. Sâu thăm trong 3 tiếng “Tây Tiến ơi” còn là tiếng gọi một người bạn, một người thân, một người tri kỷ, gọi về cả một sự gắn bó quân dân thắm thiết. Nhưng giờ đây, cả sông Mã và Tây Tiến đều đã “xa rồi”, đó là hiện thực mất mát phải đương đầu. Nhưng cũng vì xa rồi nên mới hoài niệm, mới da diết, thương nhớ tới thế. Đối với Quang Dũng, mỗi tên gọi là một phần kí ức – nơi cất giấu quãng tâm hồn mình, là địa chỉ tìm về của nỗi nhớ. Nỗi “nhớ chơi vơi”- một thông minh ngôn từ lạ mắt của riêng Quang Dũng. Với thi sĩ, nhớ Tây Tiến ko dữ dội, cuộn lòng nhưng cứ mênh mang, tha thiết, ám ảnh dư vang. Nhưng giờ đây tất cả chỉ là kỉ niệm vì “Sông Mã xa rồi”- đó là sự ý thức của nhân vật trữ tình về hiện thực phũ phàng, khắc nghiệt, Nhưng càng xa càng nhớ, nỗi nhớ cứ đong đầy, đọng lại bao dư ba. Nỗi nhớ mỗi lúc một hiện rõ qua nỗi nhớ của thi sĩ.
“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Hẻo lánh cồn mây, súng ngửi trời
Nghìn thước lên cao, nghìn thước xuống
Nhà người nào Pha Luông mưa xa khơi”
         Đoạn thơ hiện lên một loạt những địa danh. Sài Khao, Pha Luông hay Mường Hịch đều là những cái tên xa lạ mới mẻ với những chàng trai Hà thành. Vậy nhưng bước vào cuộc kháng chiến,ko một tẹo e ngại, ko một tẹo sợ sệt, họ vẫn ngày ngày hành quân trên những cung đường xa lạ đấy, dưới màn sương giăng trắng trời, lạnh lẽo cản trở tầm nhìn. Quang Dũng tái tạo cung đường Tây Bắc qua hệ thống từ láy rực rỡ “hẻo lánh, khúc khuỷu, thăm thẳm”. Mọi nguy hại, hiểm trở đều hiện lên sắc nét qua từng câu, từng chữ. Đó là cái lồi lõm, trắc trở của dốc thẳng, là cái chót vót của đèo cao và sự tun hút của những vực sâu vô tận. Tất cả đã góp phần hiện lên cái hùng vĩ, dữ dội nhưng cũng tràn đầy nguy hiểm của tự nhiên Tây Bắc. Nhưng những trắc trở đấy ko khiến họ chùn bước. Ở đoạn thơ, ta vẫn bắt gặp chút phảng phất của một tâm hồn lãng mạn, hào hoa. Trong những đêm hành quân khó khăn, họ vẫn nghĩ về hoa, về những mái nhà, từ đó thấy được tâm hồn trẻ trung, sáng sủa, ko đầu hàng trước khó khăn của những người lính.
…/…
Từ dàn ý Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến nhưng Top loigiai đã hướng dẫn trên đây, các em hãy vận dụng tri thức đã học, liên kết với cách hành văn của mình để làm thành một bài viết hoàn chỉnh nhé. Ngoài ra, chúng tôi thường xuyên cập nhật những bài văn mẫu lớp 12 hay nhất phục vụ việc học văn của các em. Chúc các em luôn học vui và học tốt!
Đăng bởi: Trường THPT Diễn Châu 2
Phân mục: Lớp 12, Ngữ Văn 12

#Phân #tích #câu #thơ #đầu #của #bài #thơ #Tây #Tiến #hay #nhất

[rule_2_plain]

#Phân #tích #câu #thơ #đầu #của #bài #thơ #Tây #Tiến #hay #nhất

[rule_2_plain]

#Phân #tích #câu #thơ #đầu #của #bài #thơ #Tây #Tiến #hay #nhất

[rule_3_plain]

#Phân #tích #câu #thơ #đầu #của #bài #thơ #Tây #Tiến #hay #nhất

Tuyển chọn những bài văn hay chủ đề phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng. Các bài văn mẫu được tổng hợp từ các bài viết hay, xuất sắc của các bạn học trò trên cả nước. Mời các em cùng tham khảo nhé!
Xem nhanh nội dung1 Dàn ý Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến2 Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến – Bài mẫu 13 Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến – Bài mẫu 24 Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến – Bài mẫu 3
Dàn ý Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến

1. Mở bài
– Giới thiệu sơ lược về tác giả, tác phẩm
+ Quang Dũng thuộc thế hệ các thi sĩ miền Bắc trưởng thành và nổi danh sau Cách mệnh tháng Tám.
+ Bài thơ Tây Tiến được viết vào năm 1948 ở Phù Lưu Chanh (Hà Tây), lúc Quang Dũng đã chuyển về đơn vị khác và nhớ về đơn vị cũ là đoàn quân Tây Tiến.

– Nói chung 8 câu thơ đầu: đoạn thơ dựng lại tuyến đường hành quân giữa núi rừng Tây Bắc hiểm trở, khắc nghiệt, hùng vĩ và thơ mộng.
2. Thân bài
* Nỗi nhớ về núi rừng Tây Bắc và đơn vị tranh đấu cũ (hai câu đầu)
– Nỗi nhớ là xúc cảm chủ đạo xuyên suốt bài thơ, đoạn thơ.
– Nỗi nhớ đấy như dâng trào ko gì có thể kiểm soát được nên đã cất lên thành tiếng gọi:
“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”
+ Từ láy “chơi vơi”: gợi hình, gợi cảm => nỗi nhớ da diết, cháy bỏng như có hình, có khối gợi lên một ko gian rộng lớn, thời kì sâu thẳm.
– Hình ảnh núi rừng trùng điệp, hoang vu và tuyến đường hành quân khó khăn của người lính
   + Hình ảnh dốc, đèo, vực thẳm, rừng dày và tuyến đường hành quân cheo leo dần xuất hiện
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
   + Những địa danh: Sài Khao, Mường Lát gợi lên ko gian hoang vu nơi xứ lạ
   + Cảm giác mỏi mệt của người lính như được xua đi bởi hình ảnh đầy thơ mộng trong đêm của Mường Lát.
   + Câu thơ “Mường Lát hoa về trong đêm hơi” : tạo ra nhiều nét nghĩa không giống nhau, trong đó có thể hiểu đây là cách tả cảnh đoàn quân đốt đuốc đi trong đêm mịt mù hơi sương trông như những bông hoa.
   + Thanh bằng: gợi cảm giác lâng lâng, chơi vơi, tài hoa và lãng mạn. Quang cảnh núi rừng hiểm trở.
* Trục đường hành quân khó khăn của người lính:
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thăm
Hẻo lánh cồn mây súng ngửi trời
Nghìn thước lên cao, nghìn thước xuống
Nhà người nào Pha Luông mưa xa khơi
– Hai câu đầu: diễn tả độ cao vút trời vào sự cheo leo hẻo lánh của núi đèo Tây Bắc.
    + Từ láy tạo hình: “khúc khuỷu”, “thăm thẳm”, “hẻo lánh”… được sử dụng với mật độ cao
    + Thủ pháp điệp từ, đối lập được khai thác triệt để

“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm” : nghe như tiếng thở nặng nhọc của người lính.    

“súng ngửi trời” : trình bày tâm hồn sáng sủa yêu đời, thử thách với khó khăn, nguy hiểm của người lính.

– Hai câu sau:
    + Câu thứ ba có sự ngắt nhịp ở giữa như bẻ đôi => diễn tả hai sườn núi vút lên, đổ xuống gần như thẳng đứng
    + Câu thơ thứ tư toàn thanh bằng => tạo cảm giác lâng lâng, chơi vơi
=> Tây Bắc dữ dội, hoang vu được mở rộng ra theo chiều ko gian: theo những địa danh xứ lạ như Sài Khao, Mường Lát…
3. Kết bài
– Nói chung lại trị giá nội dung và nghệ thuật của 8 câu thơ đầu: Hình ảnh núi rừng Tây Bắc hùng vĩ, đầy nguy hiểm nhưng cũng rất nên thơ. Hình ảnh đoàn quân trên đường hành quân mang vẻ đẹp bi tráng.
– Gợi mở thêm vấn đề.
Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến – Bài mẫu 1

         Quang Dũng là một trong những thi sĩ chiến sĩ tiêu biểu của thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Ông đặc thù thành công lúc viết về đề tài người lính trí thức tiểu tư sản hào hoa, phong nhã. Một trong những bài thơ nổi tiếng viết về người lính là bài thơ Tây Tiến.
          Cảm hứng chủ đạo trong suốt bài thơ là cảm hứng về nỗi nhớ. Đó là nỗi nhớ khó phai của đời người lính Tây Tiến được khắc hoạ thành công ở tám câu đầu của bài thơ
“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi
Nhà người nào Pha Luông mưa xa khơi”
         Tây Tiến là 1 trong những bài thơ hay, tiêu biểu của Quang Dũng. Nhắc tới thi sĩ, ko người nào ko thể ko nhớ tới Tây Tiến. Bài thơ được sáng tác cuối năm 1948 lúc thi sĩ đóng quân ở Phù Lưu Chanh – 1 làng ven bờ sông Đáy, nhớ về đơn vị cũ ông đã viết nên bài thơ. Lúc đầu, ông đặt bài thơ là Nhớ Tây Tiến nhưng về sau đổi lại thành Tây Tiến vì thi sĩ cho rằng chỉ với 2 từ Tây Tiến cũng đủ đã gợi lên nỗi nhớ là cảm hứng chủ đạo chứ ko cần tới từ “nhớ”
          Là 1 người lính trẻ hào hoa, lãng mạn ra đi theo tiếng gọi của tổ quốc, sống và tranh đấu nơi núi rừng khó khăn nhưng chất thi sĩ vẫn trào dâng mãnh liệt trong lòng thi sĩ. 1 thời gắn bó sâu đậm với Tây Tiến, với đồng chí, với núi rừng đã làm cho ông ko khỏi bổi hổi, xúc động lúc nỗi nhớ về Tây Tiến dâng trào trong kí ức của thi sĩ.
“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi”
         Câu thơ như tiếng gọi thành tâm, tha thiết xuất phát từ trái tim và tâm hồn người thi sĩ. Bằng cách sử dụng câu cảm thán mở đầu bài thơ, Quang Dũng đã gọi tên cảm hứng chủ đạo của bài thơ là nỗi nhớ cồn cào, da diết về núi rừng Tây Bắc. bằng thủ pháp nghệ thuật nhân hoá, câu thơ trở thành đẹp diệu kỳ. “Sông Mã” ko thuần tuý là 1 con sông nhưng nó đã trở thành 1 hình ảnh hiện hữu, 1 chứng nhân lịch sử trong suốt cuộc đời người lính Tây Tiến với bao nỗi vui buồn, được mất. “Tây Tiến” ko chỉ để gọi tên 1 đơn vị quân nhân nhưng nó đã trở thành 1 người bạn ” tri kỉ tri kỷ” để thi sĩ thổ lộ tâm tình
“Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”
         Câu thơ thứ 2 với điệp từ “nhớ” được lặp lại 2 lần đã diễn tả nỗi nhớ quay quắt, cồn cào đang ùa vào tâm trí Quang Dũng. tính từ “chơi vơi” liên kết với từ “nhớ” đã khắc sâu được tình cảm nhớ nhung da diết của thi sĩ và nỗi nhớ đó như 1 cơn thác lũ tràn vào tâm trí thi sĩ đã đẩy ông vào trạng thái bồng bềnh, hư ảo. 2 câu đầu với cách dùng từ tuyển lựa, gợi hình gợi cảm đã mở cửa cho nỗi nhớ trào dâng mãnh liệt trong tâm hồn thi sĩ
“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Hẻo lánh cồn mây súng ngửi trời”
          Quang Dũng đã liệt kê hàng loạt các địa danh như: Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông… Đó là địa bàn hoạt động của binh đoàn Tây Tiến, những nơi họ đi qua và ngừng chân trên bước đường hành quân khó khăn, nhọc nhằn. Nói tới Tây Bắc, là nói tới vùng đất có địa hình hiểm trở, khí hậu khắc nghiệt. Có những đêm dài hành quân người lính Tây Tiến vất vả đi trong đêm dày đặc sương giăng, ko nhìn rõ mặt nhau. “Đoàn quân mỏi” nhưng ý thức ko “mỏi”. Bởi ý chí quyết tâm ra đi vì tổ quốc đã làm cho những trí thức Hà thành yêu nước trở thành kiên cường, quật cường hơn. Quang Dũng đã rất tài tình lúc đưa hình ảnh “sương” vào đây để khắc hoạ hơn sự khắc nghiệt của núi rừng Tây Bắc trong những đêm dài lạnh lẽo. Cũng mô tả về “sương”, Chế Lan Viên cũng đã viết trong “Tiếng hát con tàu”:
“Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ
Nơi nao qua lòng lại chẳng mến thương
Lúc ta ở chỉ là nơi đất ở
Lúc ta đi đất đã hoá tâm hồn”
         Có nhẽ tự nhiên rất gắn bó với người lính Tây Bắc nên nó đã trở thành 1 kí ức khó phai trong lòng thi sĩ. Tự nhiên tuy có đẹp nhưng cũng rất hiểm trở. Có những lúc người lính Tây Tiến phải vất vả để trèo lên đỉnh chạm tới mây trời. Quang Dũng đã khôn khéo sử dụng từ “thăm thẳm” nhưng ko dùng từ chót vót” bởi nói “chót vót” người ta còn có thể cảm nhận và thấy được bề sâu của nó nhưng “thăm thẳm” thì khó có người nào có thể tưởng tượng được nó sâu thế nào. Bằng những từ láy gợi hình ảnh rất cao như “khúc khuỷu”, “thăm thẳm”, “hẻo lánh”, thi sĩ đã làm cho người đọc cảm thu được cái hoang vu, dữ dội của núi rừng Tây Bắc. Thi sĩ cũng rất trẻ trung, tinh nghịch lúc đưa hình ảnh nhân hóa, ẩn dụ ” súng ngửi trời” để cho ta thấy kế bên tự nhiên hiểm trở còn hiện lên hình ảnh người lính với tư thế uy phong lẫm liệt nơi núi rừng hoang vu. Câu thơ sử dụng nhiều thanh trắc đã tạo nên vẻ gân guốc, nhọc nhằn đã nhấn mạnh được cảnh quang tự nhiên Tây Bắc thật cheo leo, hiểm trở
“Nghìn thước lên cao nghìn thước xuống”
         Điệp từ “nghìn thước” đã mở ra 1 ko gian nhìn từ trên xuống cũng như từ dưới lên thật hùng vĩ, giăng mắc. Kế bên cái hiểm trở, hoang vu ta cũng thấy được vẻ đẹp trữ tình nơi núi rừng:
“Nhà người nào Pha Luông mưa xa khơi”
         Có những cơn mưa rừng chợt tới đã để lại bao giá rét cho người lính Tây Tiến. Nhưng dưới ngòi bút của Quang Dũng, nó trở thành lãng mạn, trữ tình hơn. Thi sĩ đã thông minh, thông minh lúc nói tới mưa rừng bằng cụm từ “mưa xa khơi”. Nó gợi lên 1 cái gì đó rất kỳ bí, hoang vu giữa chốn núi rừng. Câu thơ thứ 8 nhiều thanh bằng như làm dịu đi vẻ dữ dội, hiểm trở của núi rừng và mở ra 1 bức tranh tự nhiên nơi núi rừng đầy lãng mạn. 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến là nỗi nhớ về núi rừng Tây Bắc, về đồng chí Tây Tiến nhưng qua những cụ thể đặc tả về tự nhiên núi rừng Tây Bắc, nó đã trở thành 1 kí ức xa xôi trong tâm trí thi sĩ. Đó là 1 nỗi nhớ mãnh liệt của người lính Tây Tiến nói riêng và của những người lính nói chung.
         Bài thơ “Tây Tiến” dưới ngòi bút của lãng mạn, trữ tình của Quang Dũng đã trở thành 1 tuyệt bút của mọi thời đại. Cảm hứng chủ đạo xuyên suốt bài thơ đó là cảm hứng về nỗi nhớ. Quang Dũng đã mô tả nỗi nhớ đó bằng ngòi bút tài tình giàu chất nhạc, chất họa và đậm chất thơ. Bài thơ là 1 khúc nhạc của tâm hồn, của cuộc sống. Cho nên, Xuân Diện thật chuẩn xác lúc cho rằng đọc bài thơ “Tây Tiến” như đang ngậm âm nhạc trong mồm. Bài thơ hay bởi lẽ nó được viết nên từ ngòi bút hào hoa, lãng mạn và của 1 người lính Tây Tiến nên nó có 1 cái rất riêng và đẹp. Mang chất lính nên Quang Dũng mới có thể viết nên những vần thơ hay như thế.
          “Tây Tiến” là 1 bài thơ hay được viết nên bởi tâm hồn, tài hoa, lãng mạn của người lính trí thức tiểu tư sản Quang Dũng. Bài thơ như 1 bức tượng đài bất tử đã tạc vào nền văn học Việt Nam hình ảnh những người lính trí thức yêu nước vô danh. Bài thơ xứng đáng được xem là tuyệt bút của Quang Dũng lúc viết về người lính trí thức tiểu tư sản hào hoa, phong nhã.
Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến – Bài mẫu 2
         Trong dòng chảy thi ca Việt Nam, thơ ca cách mệnh là một thời kì để lại được nhiều dấu ấn với những thi phẩm rực rỡ như Lên Tây Bắc, Tung hô chiến sĩ Điện Biên, Việt Bắc (Tố Hữu), Đồng chí (Chính Hữu), Quốc gia (Nguyễn Đình Thi),… Nhưng bài thơ được coi là “đứa con đầu lòng hào hoa và tráng kiện của thơ ca kháng chiến chống Pháp” chính là Tây Tiến của Quang Dũng. Bài thơ ko chỉ tái tạo lại những tháng năm kháng chiến của đoàn quân Tây Tiến nhưng còn khắc họa được bức tranh tự nhiên Tây Bắc vừa hùng vĩ nhưng lại vừa lãng mạn nên thơ. 8 câu thơ trước hết đã gây ấn tượng mạnh mẽ với độc giả về hình ảnh tự nhiên núi rừng Tây Bắc.
           Bài thơ Tây Tiến được sáng tác năm 1948 tại Phù Lưu Chanh, đơn vị nhưng Quang Dũng chuyển công việc tới sau lúc kết thúc quãng thời kì một năm gắn bó cùng sát cánh, kề vai với đồng chí của quân đoàn Tây Tiến. Trong nỗi nhớ khôn nguôi về đồng chí và núi rừng Tây Bắc, thi sĩ đã ko kìm được lòng mình, để tiếng nói của trái tim cất lên thành trang thơ. 8 câu thơ trước hết như một thước phim sống động tái tạo lại cảnh tự nhiên Tây Bắc hùng vĩ và hiểm trở khôn xiết.
“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”
          Hình ảnh con sông Mã hiện lên là một hình ảnh gắn liền với địa bàn hoạt động của đoàn quân Tây Tiến, là chứng nhân của một thời dậy vang, máu lửa. Tiếng gọi “Tây Tiến ơi” thân yêu, da diết như tiếng gọi một người bạn hữu đã lâu ngày xa cách. Điệp từ “nhớ” trong một câu toàn thanh bằng nhưng một nốt nhấn cao độ trong bản nhạc trầm, nỗi nhớ dường như luôn túc trực trong lòng thi sĩ bỗng trào dâng, lên tiếng. Hai câu thơ gieo vần “ơi” liên kết với tính từ “chơi vơi” vang lên, làm cho lòng ta cũng bỗng dưng lâng lâng, lửng lơ song lại ắp đầy, tuy nhẹ nhưng lại lắng sâu. Có nhẽ chính bởi vậy, cho dù thi sĩ đã bỏ đi một chữ “nhớ” trong tiêu đề lúc đầu của tác phẩm (“Nhớ Tây Tiến”) thì xúc cảm cũng vẫn ko thôi dào dạt. Nỗi nhớ trào dâng dường như thấm đẫm trong cảnh vật trên đường hành quân, trong những kỉ niệm của một thời kháng chiến. Tất cả một vùng ký ức sống lại, nồng nàn và thân yêu, thiết tha và trọn vẹn tựa như một thước phim quay chậm, rồi từng nét cảnh núi rừng hiện lên trong bao ngày gian lao, từng khoảnh khắc gian nan bên đồng chí anh em, từng dáng hình của người sơn nữ dáng duyên, và cả hơi cơm thanh đạm nhưng ấm nồng tình quân dân cá nước,… cứ thế nhưng hiện lên đong đầy.
         Tiếp nối hai câu thơ khắc hoạ nỗi nhớ, quang cảnh tự nhiên Tây Bắc khởi đầu xuất hiện, trước hết là những địa danh, những địa bàn hoạt động nhưng đội quân đã từng một thời gắn bó.
“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi”
         “Sài Khao”, “Mường Lát” là tên của những bản núi mù sương, nghe tuy xa lạ, nhưng lại là những cái tên đã đồng hành cùng người lính Tây Tiến suốt những tháng năm kháng chiến. Hai câu thơ như gợi nhắc tới một nơi xa xôi bí mật nào đó và cũng chính sự bí mật đấy lại quyến rũ vô cùng. “Sương lấp đoàn quân mỏi” là cụ thể tả thực khắc họa những trắc trở gian nan nhưng người lính Tây Tiến gặp phải trên tuyến đường hành quân. Tự nhiên núi rừng miền cao ẩn chứa biết bao những thử thách gian nan là thế nhưng vẫn có ở đâu đây những nét đẹp thơ mộng. Thi sĩ sử dụng hai từ “đêm hơi” chứ ko phải “đêm sương”, là một đêm mờ hơi sương, đêm của hơi núi rừng, hay là một đêm nhẹ như hơi thở. Hai chữ “đêm hơi” gợi nhiều hơn tả, nó như phác lên trong tâm trí của người đọc những nét vẽ thật mơ hồ, ảo diệu, dường như lại chẳng nhìn thấy nhưng chỉ có thể cảm nhận. Trong ko gian kì ảo nên thơ, hình ảnh “hoa về” như điểm nhấn cho cảm hứng lãng mạn. “Hoa” là những bông hoa trên tay trên vai trên áo trên mũ người lính trên đường hành quân, là hoa lửa hoa đuốc sáng soi dẫn đường trong đêm tối, hay phải chăng “hoa” lại chính là người con gái người thôn nữ miền sơn cước đi về trong miền nhớ, miền thương thẳm sâu trong tâm hồn người chiến sĩ.
          Nói tới Tây Bắc, ta ko thể ko nghĩ tới tự nhiên hùng vĩ, có phần hiểm trở. Những núi cao, dốc thẳm luôn là những trở ngại trên tuyến đường hành quân của những người lính trẻ.
“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Hẻo lánh cồn mây súng ngửi trời
Nghìn thước lên cao nghìn thước xuống”
         Điệp từ “dốc”, “nghìn thước” liên kết với các giàu tính gợi hình ” khúc khuỷu”, “thăm thẳm”, “hẻo lánh” và thủ pháp tương phản đối lập “lên – xuống”, đối xứng giữa hai tiểu vế đã khắc hoạ quang cảnh tự nhiên trùng điệp, núi tiếp núi, đèo nối đèo, lên cao chót vót rồi bỗng dưng lại dốc xuống tận cùng như muốn thử thách lòng gan góc và ý chí kiên cường của người lính Tây Tiến. Trong giờ phút gian lao đấy, hình ảnh “súng ngửi trời” hiện lên thật thi vị. Đây quả là một cái nhìn hóm hỉnh, thú vị của người chiến sĩ, nó như phá tan đi cái nhọc nhằn của quãng đường hành quân đầy gian lao. Trong bài thơ “Đồng chí”, Chính Hữu cũng đã từng ghi lại hình ảnh “đầu súng trăng treo”. Đây đều là những hình ảnh tả thực, lúc những người lính hành quân, họ luôn vác súng trên vai, đầu súng hướng lên, ở một góc độ nào đó, như thể súng đang chạm tới trời, như đang treo mảnh trăng sáng của đêm rừng canh gác. Chính qua những hình ảnh đó, nhưng ta như nhìn vào được tâm hồn của họ, họ cũng mang một trái tim trẻ trung, cũng thơ mộng chứ ko hề chai sạn giữa những gian nan thử thách nơi chiến trường gay cấn, khốc liệt. Và dường như, lúc đã vượt qua hết những chặng gian lao, người lính như thở phào nhẹ nhõm, đứng nơi đỉnh cao, phóng tầm mắt ra xa
“Nhà người nào Pha Luông mưa xa khơi”
         Sau 3 câu thơ liên tục đặc tả cảnh tự nhiên hùng vĩ hiểm trở, thi sĩ sử dụng một câu thơ toàn vần bằng gợi lên quang cảnh yên bình, thơ mộng. Thì ra, Tây Bắc ngoài những đèo cao dốc thẳm cũng có những góc lãng mạn, nên thơ tới thế, nhưng có nhẽ, chỉ có người nào đã từng gắn bó thân thuộc với nơi đây mới có thể khám phá nên nhưng thôi.
         Bằng sự hiểu biết thâm thúy là ngòi bút hào hoa phóng khoáng, Quang Dũng đã khắc họa hình ảnh tự nhiên Tây Tiến thật hùng vĩ nhưng cũng rất đỗi nên thơ. Đoạn thơ đã góp một phần ko nhỏ vào thành công của tác phẩm nói riêng và văn thơ cách mệnh nói chung, để Tây Tiến trở thành một bông hoa mãi tươi xanh trong dòng chảy của thời kì.
Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến – Bài mẫu 3

         Tám câu thơ đầu đã vẽ nên bức tranh tự nhiên Tây Bắc hùng vĩ, dữ dội, đồng thời đó cũng là thử thách nguy hiểm trên chặng đường hành quân của binh đoàn Tây Tiến.
“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”
         Nỗi thương nhớ ko chỉ còn là những rung động trong tâm tưởng nhưng đã ngân vang nhẹ nhõm, tha thiết, trải rộng ra ko gian, thời kì. Hình ảnh trước hết gợi về trong tâm trí thi sĩ là hình ảnh sông Mã- dòng sông rộng dài, hùng vĩ gắn liền với Tây Tiến. Nhớ về tự nhiên hùng vĩ, tráng lệ cũng là lúc nỗi nhớ về đồng đội- những người kề vai sát cánh năm xưa trỗi dậy. Sâu thăm trong 3 tiếng “Tây Tiến ơi” còn là tiếng gọi một người bạn, một người thân, một người tri kỷ, gọi về cả một sự gắn bó quân dân thắm thiết. Nhưng giờ đây, cả sông Mã và Tây Tiến đều đã “xa rồi”, đó là hiện thực mất mát phải đương đầu. Nhưng cũng vì xa rồi nên mới hoài niệm, mới da diết, thương nhớ tới thế. Đối với Quang Dũng, mỗi tên gọi là một phần kí ức – nơi cất giấu quãng tâm hồn mình, là địa chỉ tìm về của nỗi nhớ. Nỗi “nhớ chơi vơi”- một thông minh ngôn từ lạ mắt của riêng Quang Dũng. Với thi sĩ, nhớ Tây Tiến ko dữ dội, cuộn lòng nhưng cứ mênh mang, tha thiết, ám ảnh dư vang. Nhưng giờ đây tất cả chỉ là kỉ niệm vì “Sông Mã xa rồi”- đó là sự ý thức của nhân vật trữ tình về hiện thực phũ phàng, khắc nghiệt, Nhưng càng xa càng nhớ, nỗi nhớ cứ đong đầy, đọng lại bao dư ba. Nỗi nhớ mỗi lúc một hiện rõ qua nỗi nhớ của thi sĩ.
“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Hẻo lánh cồn mây, súng ngửi trời
Nghìn thước lên cao, nghìn thước xuống
Nhà người nào Pha Luông mưa xa khơi”
         Đoạn thơ hiện lên một loạt những địa danh. Sài Khao, Pha Luông hay Mường Hịch đều là những cái tên xa lạ mới mẻ với những chàng trai Hà thành. Vậy nhưng bước vào cuộc kháng chiến,ko một tẹo e ngại, ko một tẹo sợ sệt, họ vẫn ngày ngày hành quân trên những cung đường xa lạ đấy, dưới màn sương giăng trắng trời, lạnh lẽo cản trở tầm nhìn. Quang Dũng tái tạo cung đường Tây Bắc qua hệ thống từ láy rực rỡ “hẻo lánh, khúc khuỷu, thăm thẳm”. Mọi nguy hại, hiểm trở đều hiện lên sắc nét qua từng câu, từng chữ. Đó là cái lồi lõm, trắc trở của dốc thẳng, là cái chót vót của đèo cao và sự tun hút của những vực sâu vô tận. Tất cả đã góp phần hiện lên cái hùng vĩ, dữ dội nhưng cũng tràn đầy nguy hiểm của tự nhiên Tây Bắc. Nhưng những trắc trở đấy ko khiến họ chùn bước. Ở đoạn thơ, ta vẫn bắt gặp chút phảng phất của một tâm hồn lãng mạn, hào hoa. Trong những đêm hành quân khó khăn, họ vẫn nghĩ về hoa, về những mái nhà, từ đó thấy được tâm hồn trẻ trung, sáng sủa, ko đầu hàng trước khó khăn của những người lính.
…/…
Từ dàn ý Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến nhưng Top loigiai đã hướng dẫn trên đây, các em hãy vận dụng tri thức đã học, liên kết với cách hành văn của mình để làm thành một bài viết hoàn chỉnh nhé. Ngoài ra, chúng tôi thường xuyên cập nhật những bài văn mẫu lớp 12 hay nhất phục vụ việc học văn của các em. Chúc các em luôn học vui và học tốt!
Đăng bởi: Trường THPT Diễn Châu 2
Phân mục: Lớp 12, Ngữ Văn 12

[rule_{ruleNumber}]

#Phân #tích #câu #thơ #đầu #của #bài #thơ #Tây #Tiến #hay #nhất

[rule_3_plain]

#Phân #tích #câu #thơ #đầu #của #bài #thơ #Tây #Tiến #hay #nhất

Tuyển chọn những bài văn hay chủ đề phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng. Các bài văn mẫu được tổng hợp từ các bài viết hay, xuất sắc của các bạn học trò trên cả nước. Mời các em cùng tham khảo nhé!
Xem nhanh nội dung1 Dàn ý Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến2 Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến – Bài mẫu 13 Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến – Bài mẫu 24 Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến – Bài mẫu 3
Dàn ý Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến

1. Mở bài
– Giới thiệu sơ lược về tác giả, tác phẩm
+ Quang Dũng thuộc thế hệ các thi sĩ miền Bắc trưởng thành và nổi danh sau Cách mệnh tháng Tám.
+ Bài thơ Tây Tiến được viết vào năm 1948 ở Phù Lưu Chanh (Hà Tây), lúc Quang Dũng đã chuyển về đơn vị khác và nhớ về đơn vị cũ là đoàn quân Tây Tiến.

– Nói chung 8 câu thơ đầu: đoạn thơ dựng lại tuyến đường hành quân giữa núi rừng Tây Bắc hiểm trở, khắc nghiệt, hùng vĩ và thơ mộng.
2. Thân bài
* Nỗi nhớ về núi rừng Tây Bắc và đơn vị tranh đấu cũ (hai câu đầu)
– Nỗi nhớ là xúc cảm chủ đạo xuyên suốt bài thơ, đoạn thơ.
– Nỗi nhớ đấy như dâng trào ko gì có thể kiểm soát được nên đã cất lên thành tiếng gọi:
“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”
+ Từ láy “chơi vơi”: gợi hình, gợi cảm => nỗi nhớ da diết, cháy bỏng như có hình, có khối gợi lên một ko gian rộng lớn, thời kì sâu thẳm.
– Hình ảnh núi rừng trùng điệp, hoang vu và tuyến đường hành quân khó khăn của người lính
   + Hình ảnh dốc, đèo, vực thẳm, rừng dày và tuyến đường hành quân cheo leo dần xuất hiện
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
   + Những địa danh: Sài Khao, Mường Lát gợi lên ko gian hoang vu nơi xứ lạ
   + Cảm giác mỏi mệt của người lính như được xua đi bởi hình ảnh đầy thơ mộng trong đêm của Mường Lát.
   + Câu thơ “Mường Lát hoa về trong đêm hơi” : tạo ra nhiều nét nghĩa không giống nhau, trong đó có thể hiểu đây là cách tả cảnh đoàn quân đốt đuốc đi trong đêm mịt mù hơi sương trông như những bông hoa.
   + Thanh bằng: gợi cảm giác lâng lâng, chơi vơi, tài hoa và lãng mạn. Quang cảnh núi rừng hiểm trở.
* Trục đường hành quân khó khăn của người lính:
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thăm
Hẻo lánh cồn mây súng ngửi trời
Nghìn thước lên cao, nghìn thước xuống
Nhà người nào Pha Luông mưa xa khơi
– Hai câu đầu: diễn tả độ cao vút trời vào sự cheo leo hẻo lánh của núi đèo Tây Bắc.
    + Từ láy tạo hình: “khúc khuỷu”, “thăm thẳm”, “hẻo lánh”… được sử dụng với mật độ cao
    + Thủ pháp điệp từ, đối lập được khai thác triệt để

“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm” : nghe như tiếng thở nặng nhọc của người lính.    

“súng ngửi trời” : trình bày tâm hồn sáng sủa yêu đời, thử thách với khó khăn, nguy hiểm của người lính.

– Hai câu sau:
    + Câu thứ ba có sự ngắt nhịp ở giữa như bẻ đôi => diễn tả hai sườn núi vút lên, đổ xuống gần như thẳng đứng
    + Câu thơ thứ tư toàn thanh bằng => tạo cảm giác lâng lâng, chơi vơi
=> Tây Bắc dữ dội, hoang vu được mở rộng ra theo chiều ko gian: theo những địa danh xứ lạ như Sài Khao, Mường Lát…
3. Kết bài
– Nói chung lại trị giá nội dung và nghệ thuật của 8 câu thơ đầu: Hình ảnh núi rừng Tây Bắc hùng vĩ, đầy nguy hiểm nhưng cũng rất nên thơ. Hình ảnh đoàn quân trên đường hành quân mang vẻ đẹp bi tráng.
– Gợi mở thêm vấn đề.
Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến – Bài mẫu 1

         Quang Dũng là một trong những thi sĩ chiến sĩ tiêu biểu của thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Ông đặc thù thành công lúc viết về đề tài người lính trí thức tiểu tư sản hào hoa, phong nhã. Một trong những bài thơ nổi tiếng viết về người lính là bài thơ Tây Tiến.
          Cảm hứng chủ đạo trong suốt bài thơ là cảm hứng về nỗi nhớ. Đó là nỗi nhớ khó phai của đời người lính Tây Tiến được khắc hoạ thành công ở tám câu đầu của bài thơ
“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi
Nhà người nào Pha Luông mưa xa khơi”
         Tây Tiến là 1 trong những bài thơ hay, tiêu biểu của Quang Dũng. Nhắc tới thi sĩ, ko người nào ko thể ko nhớ tới Tây Tiến. Bài thơ được sáng tác cuối năm 1948 lúc thi sĩ đóng quân ở Phù Lưu Chanh – 1 làng ven bờ sông Đáy, nhớ về đơn vị cũ ông đã viết nên bài thơ. Lúc đầu, ông đặt bài thơ là Nhớ Tây Tiến nhưng về sau đổi lại thành Tây Tiến vì thi sĩ cho rằng chỉ với 2 từ Tây Tiến cũng đủ đã gợi lên nỗi nhớ là cảm hứng chủ đạo chứ ko cần tới từ “nhớ”
          Là 1 người lính trẻ hào hoa, lãng mạn ra đi theo tiếng gọi của tổ quốc, sống và tranh đấu nơi núi rừng khó khăn nhưng chất thi sĩ vẫn trào dâng mãnh liệt trong lòng thi sĩ. 1 thời gắn bó sâu đậm với Tây Tiến, với đồng chí, với núi rừng đã làm cho ông ko khỏi bổi hổi, xúc động lúc nỗi nhớ về Tây Tiến dâng trào trong kí ức của thi sĩ.
“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi”
         Câu thơ như tiếng gọi thành tâm, tha thiết xuất phát từ trái tim và tâm hồn người thi sĩ. Bằng cách sử dụng câu cảm thán mở đầu bài thơ, Quang Dũng đã gọi tên cảm hứng chủ đạo của bài thơ là nỗi nhớ cồn cào, da diết về núi rừng Tây Bắc. bằng thủ pháp nghệ thuật nhân hoá, câu thơ trở thành đẹp diệu kỳ. “Sông Mã” ko thuần tuý là 1 con sông nhưng nó đã trở thành 1 hình ảnh hiện hữu, 1 chứng nhân lịch sử trong suốt cuộc đời người lính Tây Tiến với bao nỗi vui buồn, được mất. “Tây Tiến” ko chỉ để gọi tên 1 đơn vị quân nhân nhưng nó đã trở thành 1 người bạn ” tri kỉ tri kỷ” để thi sĩ thổ lộ tâm tình
“Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”
         Câu thơ thứ 2 với điệp từ “nhớ” được lặp lại 2 lần đã diễn tả nỗi nhớ quay quắt, cồn cào đang ùa vào tâm trí Quang Dũng. tính từ “chơi vơi” liên kết với từ “nhớ” đã khắc sâu được tình cảm nhớ nhung da diết của thi sĩ và nỗi nhớ đó như 1 cơn thác lũ tràn vào tâm trí thi sĩ đã đẩy ông vào trạng thái bồng bềnh, hư ảo. 2 câu đầu với cách dùng từ tuyển lựa, gợi hình gợi cảm đã mở cửa cho nỗi nhớ trào dâng mãnh liệt trong tâm hồn thi sĩ
“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Hẻo lánh cồn mây súng ngửi trời”
          Quang Dũng đã liệt kê hàng loạt các địa danh như: Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông… Đó là địa bàn hoạt động của binh đoàn Tây Tiến, những nơi họ đi qua và ngừng chân trên bước đường hành quân khó khăn, nhọc nhằn. Nói tới Tây Bắc, là nói tới vùng đất có địa hình hiểm trở, khí hậu khắc nghiệt. Có những đêm dài hành quân người lính Tây Tiến vất vả đi trong đêm dày đặc sương giăng, ko nhìn rõ mặt nhau. “Đoàn quân mỏi” nhưng ý thức ko “mỏi”. Bởi ý chí quyết tâm ra đi vì tổ quốc đã làm cho những trí thức Hà thành yêu nước trở thành kiên cường, quật cường hơn. Quang Dũng đã rất tài tình lúc đưa hình ảnh “sương” vào đây để khắc hoạ hơn sự khắc nghiệt của núi rừng Tây Bắc trong những đêm dài lạnh lẽo. Cũng mô tả về “sương”, Chế Lan Viên cũng đã viết trong “Tiếng hát con tàu”:
“Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ
Nơi nao qua lòng lại chẳng mến thương
Lúc ta ở chỉ là nơi đất ở
Lúc ta đi đất đã hoá tâm hồn”
         Có nhẽ tự nhiên rất gắn bó với người lính Tây Bắc nên nó đã trở thành 1 kí ức khó phai trong lòng thi sĩ. Tự nhiên tuy có đẹp nhưng cũng rất hiểm trở. Có những lúc người lính Tây Tiến phải vất vả để trèo lên đỉnh chạm tới mây trời. Quang Dũng đã khôn khéo sử dụng từ “thăm thẳm” nhưng ko dùng từ chót vót” bởi nói “chót vót” người ta còn có thể cảm nhận và thấy được bề sâu của nó nhưng “thăm thẳm” thì khó có người nào có thể tưởng tượng được nó sâu thế nào. Bằng những từ láy gợi hình ảnh rất cao như “khúc khuỷu”, “thăm thẳm”, “hẻo lánh”, thi sĩ đã làm cho người đọc cảm thu được cái hoang vu, dữ dội của núi rừng Tây Bắc. Thi sĩ cũng rất trẻ trung, tinh nghịch lúc đưa hình ảnh nhân hóa, ẩn dụ ” súng ngửi trời” để cho ta thấy kế bên tự nhiên hiểm trở còn hiện lên hình ảnh người lính với tư thế uy phong lẫm liệt nơi núi rừng hoang vu. Câu thơ sử dụng nhiều thanh trắc đã tạo nên vẻ gân guốc, nhọc nhằn đã nhấn mạnh được cảnh quang tự nhiên Tây Bắc thật cheo leo, hiểm trở
“Nghìn thước lên cao nghìn thước xuống”
         Điệp từ “nghìn thước” đã mở ra 1 ko gian nhìn từ trên xuống cũng như từ dưới lên thật hùng vĩ, giăng mắc. Kế bên cái hiểm trở, hoang vu ta cũng thấy được vẻ đẹp trữ tình nơi núi rừng:
“Nhà người nào Pha Luông mưa xa khơi”
         Có những cơn mưa rừng chợt tới đã để lại bao giá rét cho người lính Tây Tiến. Nhưng dưới ngòi bút của Quang Dũng, nó trở thành lãng mạn, trữ tình hơn. Thi sĩ đã thông minh, thông minh lúc nói tới mưa rừng bằng cụm từ “mưa xa khơi”. Nó gợi lên 1 cái gì đó rất kỳ bí, hoang vu giữa chốn núi rừng. Câu thơ thứ 8 nhiều thanh bằng như làm dịu đi vẻ dữ dội, hiểm trở của núi rừng và mở ra 1 bức tranh tự nhiên nơi núi rừng đầy lãng mạn. 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến là nỗi nhớ về núi rừng Tây Bắc, về đồng chí Tây Tiến nhưng qua những cụ thể đặc tả về tự nhiên núi rừng Tây Bắc, nó đã trở thành 1 kí ức xa xôi trong tâm trí thi sĩ. Đó là 1 nỗi nhớ mãnh liệt của người lính Tây Tiến nói riêng và của những người lính nói chung.
         Bài thơ “Tây Tiến” dưới ngòi bút của lãng mạn, trữ tình của Quang Dũng đã trở thành 1 tuyệt bút của mọi thời đại. Cảm hứng chủ đạo xuyên suốt bài thơ đó là cảm hứng về nỗi nhớ. Quang Dũng đã mô tả nỗi nhớ đó bằng ngòi bút tài tình giàu chất nhạc, chất họa và đậm chất thơ. Bài thơ là 1 khúc nhạc của tâm hồn, của cuộc sống. Cho nên, Xuân Diện thật chuẩn xác lúc cho rằng đọc bài thơ “Tây Tiến” như đang ngậm âm nhạc trong mồm. Bài thơ hay bởi lẽ nó được viết nên từ ngòi bút hào hoa, lãng mạn và của 1 người lính Tây Tiến nên nó có 1 cái rất riêng và đẹp. Mang chất lính nên Quang Dũng mới có thể viết nên những vần thơ hay như thế.
          “Tây Tiến” là 1 bài thơ hay được viết nên bởi tâm hồn, tài hoa, lãng mạn của người lính trí thức tiểu tư sản Quang Dũng. Bài thơ như 1 bức tượng đài bất tử đã tạc vào nền văn học Việt Nam hình ảnh những người lính trí thức yêu nước vô danh. Bài thơ xứng đáng được xem là tuyệt bút của Quang Dũng lúc viết về người lính trí thức tiểu tư sản hào hoa, phong nhã.
Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến – Bài mẫu 2
         Trong dòng chảy thi ca Việt Nam, thơ ca cách mệnh là một thời kì để lại được nhiều dấu ấn với những thi phẩm rực rỡ như Lên Tây Bắc, Tung hô chiến sĩ Điện Biên, Việt Bắc (Tố Hữu), Đồng chí (Chính Hữu), Quốc gia (Nguyễn Đình Thi),… Nhưng bài thơ được coi là “đứa con đầu lòng hào hoa và tráng kiện của thơ ca kháng chiến chống Pháp” chính là Tây Tiến của Quang Dũng. Bài thơ ko chỉ tái tạo lại những tháng năm kháng chiến của đoàn quân Tây Tiến nhưng còn khắc họa được bức tranh tự nhiên Tây Bắc vừa hùng vĩ nhưng lại vừa lãng mạn nên thơ. 8 câu thơ trước hết đã gây ấn tượng mạnh mẽ với độc giả về hình ảnh tự nhiên núi rừng Tây Bắc.
           Bài thơ Tây Tiến được sáng tác năm 1948 tại Phù Lưu Chanh, đơn vị nhưng Quang Dũng chuyển công việc tới sau lúc kết thúc quãng thời kì một năm gắn bó cùng sát cánh, kề vai với đồng chí của quân đoàn Tây Tiến. Trong nỗi nhớ khôn nguôi về đồng chí và núi rừng Tây Bắc, thi sĩ đã ko kìm được lòng mình, để tiếng nói của trái tim cất lên thành trang thơ. 8 câu thơ trước hết như một thước phim sống động tái tạo lại cảnh tự nhiên Tây Bắc hùng vĩ và hiểm trở khôn xiết.
“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”
          Hình ảnh con sông Mã hiện lên là một hình ảnh gắn liền với địa bàn hoạt động của đoàn quân Tây Tiến, là chứng nhân của một thời dậy vang, máu lửa. Tiếng gọi “Tây Tiến ơi” thân yêu, da diết như tiếng gọi một người bạn hữu đã lâu ngày xa cách. Điệp từ “nhớ” trong một câu toàn thanh bằng nhưng một nốt nhấn cao độ trong bản nhạc trầm, nỗi nhớ dường như luôn túc trực trong lòng thi sĩ bỗng trào dâng, lên tiếng. Hai câu thơ gieo vần “ơi” liên kết với tính từ “chơi vơi” vang lên, làm cho lòng ta cũng bỗng dưng lâng lâng, lửng lơ song lại ắp đầy, tuy nhẹ nhưng lại lắng sâu. Có nhẽ chính bởi vậy, cho dù thi sĩ đã bỏ đi một chữ “nhớ” trong tiêu đề lúc đầu của tác phẩm (“Nhớ Tây Tiến”) thì xúc cảm cũng vẫn ko thôi dào dạt. Nỗi nhớ trào dâng dường như thấm đẫm trong cảnh vật trên đường hành quân, trong những kỉ niệm của một thời kháng chiến. Tất cả một vùng ký ức sống lại, nồng nàn và thân yêu, thiết tha và trọn vẹn tựa như một thước phim quay chậm, rồi từng nét cảnh núi rừng hiện lên trong bao ngày gian lao, từng khoảnh khắc gian nan bên đồng chí anh em, từng dáng hình của người sơn nữ dáng duyên, và cả hơi cơm thanh đạm nhưng ấm nồng tình quân dân cá nước,… cứ thế nhưng hiện lên đong đầy.
         Tiếp nối hai câu thơ khắc hoạ nỗi nhớ, quang cảnh tự nhiên Tây Bắc khởi đầu xuất hiện, trước hết là những địa danh, những địa bàn hoạt động nhưng đội quân đã từng một thời gắn bó.
“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi”
         “Sài Khao”, “Mường Lát” là tên của những bản núi mù sương, nghe tuy xa lạ, nhưng lại là những cái tên đã đồng hành cùng người lính Tây Tiến suốt những tháng năm kháng chiến. Hai câu thơ như gợi nhắc tới một nơi xa xôi bí mật nào đó và cũng chính sự bí mật đấy lại quyến rũ vô cùng. “Sương lấp đoàn quân mỏi” là cụ thể tả thực khắc họa những trắc trở gian nan nhưng người lính Tây Tiến gặp phải trên tuyến đường hành quân. Tự nhiên núi rừng miền cao ẩn chứa biết bao những thử thách gian nan là thế nhưng vẫn có ở đâu đây những nét đẹp thơ mộng. Thi sĩ sử dụng hai từ “đêm hơi” chứ ko phải “đêm sương”, là một đêm mờ hơi sương, đêm của hơi núi rừng, hay là một đêm nhẹ như hơi thở. Hai chữ “đêm hơi” gợi nhiều hơn tả, nó như phác lên trong tâm trí của người đọc những nét vẽ thật mơ hồ, ảo diệu, dường như lại chẳng nhìn thấy nhưng chỉ có thể cảm nhận. Trong ko gian kì ảo nên thơ, hình ảnh “hoa về” như điểm nhấn cho cảm hứng lãng mạn. “Hoa” là những bông hoa trên tay trên vai trên áo trên mũ người lính trên đường hành quân, là hoa lửa hoa đuốc sáng soi dẫn đường trong đêm tối, hay phải chăng “hoa” lại chính là người con gái người thôn nữ miền sơn cước đi về trong miền nhớ, miền thương thẳm sâu trong tâm hồn người chiến sĩ.
          Nói tới Tây Bắc, ta ko thể ko nghĩ tới tự nhiên hùng vĩ, có phần hiểm trở. Những núi cao, dốc thẳm luôn là những trở ngại trên tuyến đường hành quân của những người lính trẻ.
“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Hẻo lánh cồn mây súng ngửi trời
Nghìn thước lên cao nghìn thước xuống”
         Điệp từ “dốc”, “nghìn thước” liên kết với các giàu tính gợi hình ” khúc khuỷu”, “thăm thẳm”, “hẻo lánh” và thủ pháp tương phản đối lập “lên – xuống”, đối xứng giữa hai tiểu vế đã khắc hoạ quang cảnh tự nhiên trùng điệp, núi tiếp núi, đèo nối đèo, lên cao chót vót rồi bỗng dưng lại dốc xuống tận cùng như muốn thử thách lòng gan góc và ý chí kiên cường của người lính Tây Tiến. Trong giờ phút gian lao đấy, hình ảnh “súng ngửi trời” hiện lên thật thi vị. Đây quả là một cái nhìn hóm hỉnh, thú vị của người chiến sĩ, nó như phá tan đi cái nhọc nhằn của quãng đường hành quân đầy gian lao. Trong bài thơ “Đồng chí”, Chính Hữu cũng đã từng ghi lại hình ảnh “đầu súng trăng treo”. Đây đều là những hình ảnh tả thực, lúc những người lính hành quân, họ luôn vác súng trên vai, đầu súng hướng lên, ở một góc độ nào đó, như thể súng đang chạm tới trời, như đang treo mảnh trăng sáng của đêm rừng canh gác. Chính qua những hình ảnh đó, nhưng ta như nhìn vào được tâm hồn của họ, họ cũng mang một trái tim trẻ trung, cũng thơ mộng chứ ko hề chai sạn giữa những gian nan thử thách nơi chiến trường gay cấn, khốc liệt. Và dường như, lúc đã vượt qua hết những chặng gian lao, người lính như thở phào nhẹ nhõm, đứng nơi đỉnh cao, phóng tầm mắt ra xa
“Nhà người nào Pha Luông mưa xa khơi”
         Sau 3 câu thơ liên tục đặc tả cảnh tự nhiên hùng vĩ hiểm trở, thi sĩ sử dụng một câu thơ toàn vần bằng gợi lên quang cảnh yên bình, thơ mộng. Thì ra, Tây Bắc ngoài những đèo cao dốc thẳm cũng có những góc lãng mạn, nên thơ tới thế, nhưng có nhẽ, chỉ có người nào đã từng gắn bó thân thuộc với nơi đây mới có thể khám phá nên nhưng thôi.
         Bằng sự hiểu biết thâm thúy là ngòi bút hào hoa phóng khoáng, Quang Dũng đã khắc họa hình ảnh tự nhiên Tây Tiến thật hùng vĩ nhưng cũng rất đỗi nên thơ. Đoạn thơ đã góp một phần ko nhỏ vào thành công của tác phẩm nói riêng và văn thơ cách mệnh nói chung, để Tây Tiến trở thành một bông hoa mãi tươi xanh trong dòng chảy của thời kì.
Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến – Bài mẫu 3

         Tám câu thơ đầu đã vẽ nên bức tranh tự nhiên Tây Bắc hùng vĩ, dữ dội, đồng thời đó cũng là thử thách nguy hiểm trên chặng đường hành quân của binh đoàn Tây Tiến.
“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”
         Nỗi thương nhớ ko chỉ còn là những rung động trong tâm tưởng nhưng đã ngân vang nhẹ nhõm, tha thiết, trải rộng ra ko gian, thời kì. Hình ảnh trước hết gợi về trong tâm trí thi sĩ là hình ảnh sông Mã- dòng sông rộng dài, hùng vĩ gắn liền với Tây Tiến. Nhớ về tự nhiên hùng vĩ, tráng lệ cũng là lúc nỗi nhớ về đồng đội- những người kề vai sát cánh năm xưa trỗi dậy. Sâu thăm trong 3 tiếng “Tây Tiến ơi” còn là tiếng gọi một người bạn, một người thân, một người tri kỷ, gọi về cả một sự gắn bó quân dân thắm thiết. Nhưng giờ đây, cả sông Mã và Tây Tiến đều đã “xa rồi”, đó là hiện thực mất mát phải đương đầu. Nhưng cũng vì xa rồi nên mới hoài niệm, mới da diết, thương nhớ tới thế. Đối với Quang Dũng, mỗi tên gọi là một phần kí ức – nơi cất giấu quãng tâm hồn mình, là địa chỉ tìm về của nỗi nhớ. Nỗi “nhớ chơi vơi”- một thông minh ngôn từ lạ mắt của riêng Quang Dũng. Với thi sĩ, nhớ Tây Tiến ko dữ dội, cuộn lòng nhưng cứ mênh mang, tha thiết, ám ảnh dư vang. Nhưng giờ đây tất cả chỉ là kỉ niệm vì “Sông Mã xa rồi”- đó là sự ý thức của nhân vật trữ tình về hiện thực phũ phàng, khắc nghiệt, Nhưng càng xa càng nhớ, nỗi nhớ cứ đong đầy, đọng lại bao dư ba. Nỗi nhớ mỗi lúc một hiện rõ qua nỗi nhớ của thi sĩ.
“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Hẻo lánh cồn mây, súng ngửi trời
Nghìn thước lên cao, nghìn thước xuống
Nhà người nào Pha Luông mưa xa khơi”
         Đoạn thơ hiện lên một loạt những địa danh. Sài Khao, Pha Luông hay Mường Hịch đều là những cái tên xa lạ mới mẻ với những chàng trai Hà thành. Vậy nhưng bước vào cuộc kháng chiến,ko một tẹo e ngại, ko một tẹo sợ sệt, họ vẫn ngày ngày hành quân trên những cung đường xa lạ đấy, dưới màn sương giăng trắng trời, lạnh lẽo cản trở tầm nhìn. Quang Dũng tái tạo cung đường Tây Bắc qua hệ thống từ láy rực rỡ “hẻo lánh, khúc khuỷu, thăm thẳm”. Mọi nguy hại, hiểm trở đều hiện lên sắc nét qua từng câu, từng chữ. Đó là cái lồi lõm, trắc trở của dốc thẳng, là cái chót vót của đèo cao và sự tun hút của những vực sâu vô tận. Tất cả đã góp phần hiện lên cái hùng vĩ, dữ dội nhưng cũng tràn đầy nguy hiểm của tự nhiên Tây Bắc. Nhưng những trắc trở đấy ko khiến họ chùn bước. Ở đoạn thơ, ta vẫn bắt gặp chút phảng phất của một tâm hồn lãng mạn, hào hoa. Trong những đêm hành quân khó khăn, họ vẫn nghĩ về hoa, về những mái nhà, từ đó thấy được tâm hồn trẻ trung, sáng sủa, ko đầu hàng trước khó khăn của những người lính.
…/…
Từ dàn ý Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến nhưng Top loigiai đã hướng dẫn trên đây, các em hãy vận dụng tri thức đã học, liên kết với cách hành văn của mình để làm thành một bài viết hoàn chỉnh nhé. Ngoài ra, chúng tôi thường xuyên cập nhật những bài văn mẫu lớp 12 hay nhất phục vụ việc học văn của các em. Chúc các em luôn học vui và học tốt!
Đăng bởi: Trường THPT Diễn Châu 2
Phân mục: Lớp 12, Ngữ Văn 12

#Phân #tích #câu #thơ #đầu #của #bài #thơ #Tây #Tiến #hay #nhất

[rule_2_plain]

#Phân #tích #câu #thơ #đầu #của #bài #thơ #Tây #Tiến #hay #nhất

[rule_2_plain]

#Phân #tích #câu #thơ #đầu #của #bài #thơ #Tây #Tiến #hay #nhất

[rule_3_plain]

#Phân #tích #câu #thơ #đầu #của #bài #thơ #Tây #Tiến #hay #nhất

Tuyển chọn những bài văn hay chủ đề phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng. Các bài văn mẫu được tổng hợp từ các bài viết hay, xuất sắc của các bạn học trò trên cả nước. Mời các em cùng tham khảo nhé!
Xem nhanh nội dung1 Dàn ý Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến2 Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến – Bài mẫu 13 Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến – Bài mẫu 24 Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến – Bài mẫu 3
Dàn ý Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến

1. Mở bài
– Giới thiệu sơ lược về tác giả, tác phẩm
+ Quang Dũng thuộc thế hệ các thi sĩ miền Bắc trưởng thành và nổi danh sau Cách mệnh tháng Tám.
+ Bài thơ Tây Tiến được viết vào năm 1948 ở Phù Lưu Chanh (Hà Tây), lúc Quang Dũng đã chuyển về đơn vị khác và nhớ về đơn vị cũ là đoàn quân Tây Tiến.

– Nói chung 8 câu thơ đầu: đoạn thơ dựng lại tuyến đường hành quân giữa núi rừng Tây Bắc hiểm trở, khắc nghiệt, hùng vĩ và thơ mộng.
2. Thân bài
* Nỗi nhớ về núi rừng Tây Bắc và đơn vị tranh đấu cũ (hai câu đầu)
– Nỗi nhớ là xúc cảm chủ đạo xuyên suốt bài thơ, đoạn thơ.
– Nỗi nhớ đấy như dâng trào ko gì có thể kiểm soát được nên đã cất lên thành tiếng gọi:
“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”
+ Từ láy “chơi vơi”: gợi hình, gợi cảm => nỗi nhớ da diết, cháy bỏng như có hình, có khối gợi lên một ko gian rộng lớn, thời kì sâu thẳm.
– Hình ảnh núi rừng trùng điệp, hoang vu và tuyến đường hành quân khó khăn của người lính
   + Hình ảnh dốc, đèo, vực thẳm, rừng dày và tuyến đường hành quân cheo leo dần xuất hiện
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
   + Những địa danh: Sài Khao, Mường Lát gợi lên ko gian hoang vu nơi xứ lạ
   + Cảm giác mỏi mệt của người lính như được xua đi bởi hình ảnh đầy thơ mộng trong đêm của Mường Lát.
   + Câu thơ “Mường Lát hoa về trong đêm hơi” : tạo ra nhiều nét nghĩa không giống nhau, trong đó có thể hiểu đây là cách tả cảnh đoàn quân đốt đuốc đi trong đêm mịt mù hơi sương trông như những bông hoa.
   + Thanh bằng: gợi cảm giác lâng lâng, chơi vơi, tài hoa và lãng mạn. Quang cảnh núi rừng hiểm trở.
* Trục đường hành quân khó khăn của người lính:
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thăm
Hẻo lánh cồn mây súng ngửi trời
Nghìn thước lên cao, nghìn thước xuống
Nhà người nào Pha Luông mưa xa khơi
– Hai câu đầu: diễn tả độ cao vút trời vào sự cheo leo hẻo lánh của núi đèo Tây Bắc.
    + Từ láy tạo hình: “khúc khuỷu”, “thăm thẳm”, “hẻo lánh”… được sử dụng với mật độ cao
    + Thủ pháp điệp từ, đối lập được khai thác triệt để

“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm” : nghe như tiếng thở nặng nhọc của người lính.    

“súng ngửi trời” : trình bày tâm hồn sáng sủa yêu đời, thử thách với khó khăn, nguy hiểm của người lính.

– Hai câu sau:
    + Câu thứ ba có sự ngắt nhịp ở giữa như bẻ đôi => diễn tả hai sườn núi vút lên, đổ xuống gần như thẳng đứng
    + Câu thơ thứ tư toàn thanh bằng => tạo cảm giác lâng lâng, chơi vơi
=> Tây Bắc dữ dội, hoang vu được mở rộng ra theo chiều ko gian: theo những địa danh xứ lạ như Sài Khao, Mường Lát…
3. Kết bài
– Nói chung lại trị giá nội dung và nghệ thuật của 8 câu thơ đầu: Hình ảnh núi rừng Tây Bắc hùng vĩ, đầy nguy hiểm nhưng cũng rất nên thơ. Hình ảnh đoàn quân trên đường hành quân mang vẻ đẹp bi tráng.
– Gợi mở thêm vấn đề.
Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến – Bài mẫu 1

         Quang Dũng là một trong những thi sĩ chiến sĩ tiêu biểu của thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Ông đặc thù thành công lúc viết về đề tài người lính trí thức tiểu tư sản hào hoa, phong nhã. Một trong những bài thơ nổi tiếng viết về người lính là bài thơ Tây Tiến.
          Cảm hứng chủ đạo trong suốt bài thơ là cảm hứng về nỗi nhớ. Đó là nỗi nhớ khó phai của đời người lính Tây Tiến được khắc hoạ thành công ở tám câu đầu của bài thơ
“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi
Nhà người nào Pha Luông mưa xa khơi”
         Tây Tiến là 1 trong những bài thơ hay, tiêu biểu của Quang Dũng. Nhắc tới thi sĩ, ko người nào ko thể ko nhớ tới Tây Tiến. Bài thơ được sáng tác cuối năm 1948 lúc thi sĩ đóng quân ở Phù Lưu Chanh – 1 làng ven bờ sông Đáy, nhớ về đơn vị cũ ông đã viết nên bài thơ. Lúc đầu, ông đặt bài thơ là Nhớ Tây Tiến nhưng về sau đổi lại thành Tây Tiến vì thi sĩ cho rằng chỉ với 2 từ Tây Tiến cũng đủ đã gợi lên nỗi nhớ là cảm hứng chủ đạo chứ ko cần tới từ “nhớ”
          Là 1 người lính trẻ hào hoa, lãng mạn ra đi theo tiếng gọi của tổ quốc, sống và tranh đấu nơi núi rừng khó khăn nhưng chất thi sĩ vẫn trào dâng mãnh liệt trong lòng thi sĩ. 1 thời gắn bó sâu đậm với Tây Tiến, với đồng chí, với núi rừng đã làm cho ông ko khỏi bổi hổi, xúc động lúc nỗi nhớ về Tây Tiến dâng trào trong kí ức của thi sĩ.
“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi”
         Câu thơ như tiếng gọi thành tâm, tha thiết xuất phát từ trái tim và tâm hồn người thi sĩ. Bằng cách sử dụng câu cảm thán mở đầu bài thơ, Quang Dũng đã gọi tên cảm hứng chủ đạo của bài thơ là nỗi nhớ cồn cào, da diết về núi rừng Tây Bắc. bằng thủ pháp nghệ thuật nhân hoá, câu thơ trở thành đẹp diệu kỳ. “Sông Mã” ko thuần tuý là 1 con sông nhưng nó đã trở thành 1 hình ảnh hiện hữu, 1 chứng nhân lịch sử trong suốt cuộc đời người lính Tây Tiến với bao nỗi vui buồn, được mất. “Tây Tiến” ko chỉ để gọi tên 1 đơn vị quân nhân nhưng nó đã trở thành 1 người bạn ” tri kỉ tri kỷ” để thi sĩ thổ lộ tâm tình
“Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”
         Câu thơ thứ 2 với điệp từ “nhớ” được lặp lại 2 lần đã diễn tả nỗi nhớ quay quắt, cồn cào đang ùa vào tâm trí Quang Dũng. tính từ “chơi vơi” liên kết với từ “nhớ” đã khắc sâu được tình cảm nhớ nhung da diết của thi sĩ và nỗi nhớ đó như 1 cơn thác lũ tràn vào tâm trí thi sĩ đã đẩy ông vào trạng thái bồng bềnh, hư ảo. 2 câu đầu với cách dùng từ tuyển lựa, gợi hình gợi cảm đã mở cửa cho nỗi nhớ trào dâng mãnh liệt trong tâm hồn thi sĩ
“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Hẻo lánh cồn mây súng ngửi trời”
          Quang Dũng đã liệt kê hàng loạt các địa danh như: Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông… Đó là địa bàn hoạt động của binh đoàn Tây Tiến, những nơi họ đi qua và ngừng chân trên bước đường hành quân khó khăn, nhọc nhằn. Nói tới Tây Bắc, là nói tới vùng đất có địa hình hiểm trở, khí hậu khắc nghiệt. Có những đêm dài hành quân người lính Tây Tiến vất vả đi trong đêm dày đặc sương giăng, ko nhìn rõ mặt nhau. “Đoàn quân mỏi” nhưng ý thức ko “mỏi”. Bởi ý chí quyết tâm ra đi vì tổ quốc đã làm cho những trí thức Hà thành yêu nước trở thành kiên cường, quật cường hơn. Quang Dũng đã rất tài tình lúc đưa hình ảnh “sương” vào đây để khắc hoạ hơn sự khắc nghiệt của núi rừng Tây Bắc trong những đêm dài lạnh lẽo. Cũng mô tả về “sương”, Chế Lan Viên cũng đã viết trong “Tiếng hát con tàu”:
“Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ
Nơi nao qua lòng lại chẳng mến thương
Lúc ta ở chỉ là nơi đất ở
Lúc ta đi đất đã hoá tâm hồn”
         Có nhẽ tự nhiên rất gắn bó với người lính Tây Bắc nên nó đã trở thành 1 kí ức khó phai trong lòng thi sĩ. Tự nhiên tuy có đẹp nhưng cũng rất hiểm trở. Có những lúc người lính Tây Tiến phải vất vả để trèo lên đỉnh chạm tới mây trời. Quang Dũng đã khôn khéo sử dụng từ “thăm thẳm” nhưng ko dùng từ chót vót” bởi nói “chót vót” người ta còn có thể cảm nhận và thấy được bề sâu của nó nhưng “thăm thẳm” thì khó có người nào có thể tưởng tượng được nó sâu thế nào. Bằng những từ láy gợi hình ảnh rất cao như “khúc khuỷu”, “thăm thẳm”, “hẻo lánh”, thi sĩ đã làm cho người đọc cảm thu được cái hoang vu, dữ dội của núi rừng Tây Bắc. Thi sĩ cũng rất trẻ trung, tinh nghịch lúc đưa hình ảnh nhân hóa, ẩn dụ ” súng ngửi trời” để cho ta thấy kế bên tự nhiên hiểm trở còn hiện lên hình ảnh người lính với tư thế uy phong lẫm liệt nơi núi rừng hoang vu. Câu thơ sử dụng nhiều thanh trắc đã tạo nên vẻ gân guốc, nhọc nhằn đã nhấn mạnh được cảnh quang tự nhiên Tây Bắc thật cheo leo, hiểm trở
“Nghìn thước lên cao nghìn thước xuống”
         Điệp từ “nghìn thước” đã mở ra 1 ko gian nhìn từ trên xuống cũng như từ dưới lên thật hùng vĩ, giăng mắc. Kế bên cái hiểm trở, hoang vu ta cũng thấy được vẻ đẹp trữ tình nơi núi rừng:
“Nhà người nào Pha Luông mưa xa khơi”
         Có những cơn mưa rừng chợt tới đã để lại bao giá rét cho người lính Tây Tiến. Nhưng dưới ngòi bút của Quang Dũng, nó trở thành lãng mạn, trữ tình hơn. Thi sĩ đã thông minh, thông minh lúc nói tới mưa rừng bằng cụm từ “mưa xa khơi”. Nó gợi lên 1 cái gì đó rất kỳ bí, hoang vu giữa chốn núi rừng. Câu thơ thứ 8 nhiều thanh bằng như làm dịu đi vẻ dữ dội, hiểm trở của núi rừng và mở ra 1 bức tranh tự nhiên nơi núi rừng đầy lãng mạn. 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến là nỗi nhớ về núi rừng Tây Bắc, về đồng chí Tây Tiến nhưng qua những cụ thể đặc tả về tự nhiên núi rừng Tây Bắc, nó đã trở thành 1 kí ức xa xôi trong tâm trí thi sĩ. Đó là 1 nỗi nhớ mãnh liệt của người lính Tây Tiến nói riêng và của những người lính nói chung.
         Bài thơ “Tây Tiến” dưới ngòi bút của lãng mạn, trữ tình của Quang Dũng đã trở thành 1 tuyệt bút của mọi thời đại. Cảm hứng chủ đạo xuyên suốt bài thơ đó là cảm hứng về nỗi nhớ. Quang Dũng đã mô tả nỗi nhớ đó bằng ngòi bút tài tình giàu chất nhạc, chất họa và đậm chất thơ. Bài thơ là 1 khúc nhạc của tâm hồn, của cuộc sống. Cho nên, Xuân Diện thật chuẩn xác lúc cho rằng đọc bài thơ “Tây Tiến” như đang ngậm âm nhạc trong mồm. Bài thơ hay bởi lẽ nó được viết nên từ ngòi bút hào hoa, lãng mạn và của 1 người lính Tây Tiến nên nó có 1 cái rất riêng và đẹp. Mang chất lính nên Quang Dũng mới có thể viết nên những vần thơ hay như thế.
          “Tây Tiến” là 1 bài thơ hay được viết nên bởi tâm hồn, tài hoa, lãng mạn của người lính trí thức tiểu tư sản Quang Dũng. Bài thơ như 1 bức tượng đài bất tử đã tạc vào nền văn học Việt Nam hình ảnh những người lính trí thức yêu nước vô danh. Bài thơ xứng đáng được xem là tuyệt bút của Quang Dũng lúc viết về người lính trí thức tiểu tư sản hào hoa, phong nhã.
Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến – Bài mẫu 2
         Trong dòng chảy thi ca Việt Nam, thơ ca cách mệnh là một thời kì để lại được nhiều dấu ấn với những thi phẩm rực rỡ như Lên Tây Bắc, Tung hô chiến sĩ Điện Biên, Việt Bắc (Tố Hữu), Đồng chí (Chính Hữu), Quốc gia (Nguyễn Đình Thi),… Nhưng bài thơ được coi là “đứa con đầu lòng hào hoa và tráng kiện của thơ ca kháng chiến chống Pháp” chính là Tây Tiến của Quang Dũng. Bài thơ ko chỉ tái tạo lại những tháng năm kháng chiến của đoàn quân Tây Tiến nhưng còn khắc họa được bức tranh tự nhiên Tây Bắc vừa hùng vĩ nhưng lại vừa lãng mạn nên thơ. 8 câu thơ trước hết đã gây ấn tượng mạnh mẽ với độc giả về hình ảnh tự nhiên núi rừng Tây Bắc.
           Bài thơ Tây Tiến được sáng tác năm 1948 tại Phù Lưu Chanh, đơn vị nhưng Quang Dũng chuyển công việc tới sau lúc kết thúc quãng thời kì một năm gắn bó cùng sát cánh, kề vai với đồng chí của quân đoàn Tây Tiến. Trong nỗi nhớ khôn nguôi về đồng chí và núi rừng Tây Bắc, thi sĩ đã ko kìm được lòng mình, để tiếng nói của trái tim cất lên thành trang thơ. 8 câu thơ trước hết như một thước phim sống động tái tạo lại cảnh tự nhiên Tây Bắc hùng vĩ và hiểm trở khôn xiết.
“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”
          Hình ảnh con sông Mã hiện lên là một hình ảnh gắn liền với địa bàn hoạt động của đoàn quân Tây Tiến, là chứng nhân của một thời dậy vang, máu lửa. Tiếng gọi “Tây Tiến ơi” thân yêu, da diết như tiếng gọi một người bạn hữu đã lâu ngày xa cách. Điệp từ “nhớ” trong một câu toàn thanh bằng nhưng một nốt nhấn cao độ trong bản nhạc trầm, nỗi nhớ dường như luôn túc trực trong lòng thi sĩ bỗng trào dâng, lên tiếng. Hai câu thơ gieo vần “ơi” liên kết với tính từ “chơi vơi” vang lên, làm cho lòng ta cũng bỗng dưng lâng lâng, lửng lơ song lại ắp đầy, tuy nhẹ nhưng lại lắng sâu. Có nhẽ chính bởi vậy, cho dù thi sĩ đã bỏ đi một chữ “nhớ” trong tiêu đề lúc đầu của tác phẩm (“Nhớ Tây Tiến”) thì xúc cảm cũng vẫn ko thôi dào dạt. Nỗi nhớ trào dâng dường như thấm đẫm trong cảnh vật trên đường hành quân, trong những kỉ niệm của một thời kháng chiến. Tất cả một vùng ký ức sống lại, nồng nàn và thân yêu, thiết tha và trọn vẹn tựa như một thước phim quay chậm, rồi từng nét cảnh núi rừng hiện lên trong bao ngày gian lao, từng khoảnh khắc gian nan bên đồng chí anh em, từng dáng hình của người sơn nữ dáng duyên, và cả hơi cơm thanh đạm nhưng ấm nồng tình quân dân cá nước,… cứ thế nhưng hiện lên đong đầy.
         Tiếp nối hai câu thơ khắc hoạ nỗi nhớ, quang cảnh tự nhiên Tây Bắc khởi đầu xuất hiện, trước hết là những địa danh, những địa bàn hoạt động nhưng đội quân đã từng một thời gắn bó.
“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi”
         “Sài Khao”, “Mường Lát” là tên của những bản núi mù sương, nghe tuy xa lạ, nhưng lại là những cái tên đã đồng hành cùng người lính Tây Tiến suốt những tháng năm kháng chiến. Hai câu thơ như gợi nhắc tới một nơi xa xôi bí mật nào đó và cũng chính sự bí mật đấy lại quyến rũ vô cùng. “Sương lấp đoàn quân mỏi” là cụ thể tả thực khắc họa những trắc trở gian nan nhưng người lính Tây Tiến gặp phải trên tuyến đường hành quân. Tự nhiên núi rừng miền cao ẩn chứa biết bao những thử thách gian nan là thế nhưng vẫn có ở đâu đây những nét đẹp thơ mộng. Thi sĩ sử dụng hai từ “đêm hơi” chứ ko phải “đêm sương”, là một đêm mờ hơi sương, đêm của hơi núi rừng, hay là một đêm nhẹ như hơi thở. Hai chữ “đêm hơi” gợi nhiều hơn tả, nó như phác lên trong tâm trí của người đọc những nét vẽ thật mơ hồ, ảo diệu, dường như lại chẳng nhìn thấy nhưng chỉ có thể cảm nhận. Trong ko gian kì ảo nên thơ, hình ảnh “hoa về” như điểm nhấn cho cảm hứng lãng mạn. “Hoa” là những bông hoa trên tay trên vai trên áo trên mũ người lính trên đường hành quân, là hoa lửa hoa đuốc sáng soi dẫn đường trong đêm tối, hay phải chăng “hoa” lại chính là người con gái người thôn nữ miền sơn cước đi về trong miền nhớ, miền thương thẳm sâu trong tâm hồn người chiến sĩ.
          Nói tới Tây Bắc, ta ko thể ko nghĩ tới tự nhiên hùng vĩ, có phần hiểm trở. Những núi cao, dốc thẳm luôn là những trở ngại trên tuyến đường hành quân của những người lính trẻ.
“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Hẻo lánh cồn mây súng ngửi trời
Nghìn thước lên cao nghìn thước xuống”
         Điệp từ “dốc”, “nghìn thước” liên kết với các giàu tính gợi hình ” khúc khuỷu”, “thăm thẳm”, “hẻo lánh” và thủ pháp tương phản đối lập “lên – xuống”, đối xứng giữa hai tiểu vế đã khắc hoạ quang cảnh tự nhiên trùng điệp, núi tiếp núi, đèo nối đèo, lên cao chót vót rồi bỗng dưng lại dốc xuống tận cùng như muốn thử thách lòng gan góc và ý chí kiên cường của người lính Tây Tiến. Trong giờ phút gian lao đấy, hình ảnh “súng ngửi trời” hiện lên thật thi vị. Đây quả là một cái nhìn hóm hỉnh, thú vị của người chiến sĩ, nó như phá tan đi cái nhọc nhằn của quãng đường hành quân đầy gian lao. Trong bài thơ “Đồng chí”, Chính Hữu cũng đã từng ghi lại hình ảnh “đầu súng trăng treo”. Đây đều là những hình ảnh tả thực, lúc những người lính hành quân, họ luôn vác súng trên vai, đầu súng hướng lên, ở một góc độ nào đó, như thể súng đang chạm tới trời, như đang treo mảnh trăng sáng của đêm rừng canh gác. Chính qua những hình ảnh đó, nhưng ta như nhìn vào được tâm hồn của họ, họ cũng mang một trái tim trẻ trung, cũng thơ mộng chứ ko hề chai sạn giữa những gian nan thử thách nơi chiến trường gay cấn, khốc liệt. Và dường như, lúc đã vượt qua hết những chặng gian lao, người lính như thở phào nhẹ nhõm, đứng nơi đỉnh cao, phóng tầm mắt ra xa
“Nhà người nào Pha Luông mưa xa khơi”
         Sau 3 câu thơ liên tục đặc tả cảnh tự nhiên hùng vĩ hiểm trở, thi sĩ sử dụng một câu thơ toàn vần bằng gợi lên quang cảnh yên bình, thơ mộng. Thì ra, Tây Bắc ngoài những đèo cao dốc thẳm cũng có những góc lãng mạn, nên thơ tới thế, nhưng có nhẽ, chỉ có người nào đã từng gắn bó thân thuộc với nơi đây mới có thể khám phá nên nhưng thôi.
         Bằng sự hiểu biết thâm thúy là ngòi bút hào hoa phóng khoáng, Quang Dũng đã khắc họa hình ảnh tự nhiên Tây Tiến thật hùng vĩ nhưng cũng rất đỗi nên thơ. Đoạn thơ đã góp một phần ko nhỏ vào thành công của tác phẩm nói riêng và văn thơ cách mệnh nói chung, để Tây Tiến trở thành một bông hoa mãi tươi xanh trong dòng chảy của thời kì.
Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến – Bài mẫu 3

         Tám câu thơ đầu đã vẽ nên bức tranh tự nhiên Tây Bắc hùng vĩ, dữ dội, đồng thời đó cũng là thử thách nguy hiểm trên chặng đường hành quân của binh đoàn Tây Tiến.
“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”
         Nỗi thương nhớ ko chỉ còn là những rung động trong tâm tưởng nhưng đã ngân vang nhẹ nhõm, tha thiết, trải rộng ra ko gian, thời kì. Hình ảnh trước hết gợi về trong tâm trí thi sĩ là hình ảnh sông Mã- dòng sông rộng dài, hùng vĩ gắn liền với Tây Tiến. Nhớ về tự nhiên hùng vĩ, tráng lệ cũng là lúc nỗi nhớ về đồng đội- những người kề vai sát cánh năm xưa trỗi dậy. Sâu thăm trong 3 tiếng “Tây Tiến ơi” còn là tiếng gọi một người bạn, một người thân, một người tri kỷ, gọi về cả một sự gắn bó quân dân thắm thiết. Nhưng giờ đây, cả sông Mã và Tây Tiến đều đã “xa rồi”, đó là hiện thực mất mát phải đương đầu. Nhưng cũng vì xa rồi nên mới hoài niệm, mới da diết, thương nhớ tới thế. Đối với Quang Dũng, mỗi tên gọi là một phần kí ức – nơi cất giấu quãng tâm hồn mình, là địa chỉ tìm về của nỗi nhớ. Nỗi “nhớ chơi vơi”- một thông minh ngôn từ lạ mắt của riêng Quang Dũng. Với thi sĩ, nhớ Tây Tiến ko dữ dội, cuộn lòng nhưng cứ mênh mang, tha thiết, ám ảnh dư vang. Nhưng giờ đây tất cả chỉ là kỉ niệm vì “Sông Mã xa rồi”- đó là sự ý thức của nhân vật trữ tình về hiện thực phũ phàng, khắc nghiệt, Nhưng càng xa càng nhớ, nỗi nhớ cứ đong đầy, đọng lại bao dư ba. Nỗi nhớ mỗi lúc một hiện rõ qua nỗi nhớ của thi sĩ.
“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Hẻo lánh cồn mây, súng ngửi trời
Nghìn thước lên cao, nghìn thước xuống
Nhà người nào Pha Luông mưa xa khơi”
         Đoạn thơ hiện lên một loạt những địa danh. Sài Khao, Pha Luông hay Mường Hịch đều là những cái tên xa lạ mới mẻ với những chàng trai Hà thành. Vậy nhưng bước vào cuộc kháng chiến,ko một tẹo e ngại, ko một tẹo sợ sệt, họ vẫn ngày ngày hành quân trên những cung đường xa lạ đấy, dưới màn sương giăng trắng trời, lạnh lẽo cản trở tầm nhìn. Quang Dũng tái tạo cung đường Tây Bắc qua hệ thống từ láy rực rỡ “hẻo lánh, khúc khuỷu, thăm thẳm”. Mọi nguy hại, hiểm trở đều hiện lên sắc nét qua từng câu, từng chữ. Đó là cái lồi lõm, trắc trở của dốc thẳng, là cái chót vót của đèo cao và sự tun hút của những vực sâu vô tận. Tất cả đã góp phần hiện lên cái hùng vĩ, dữ dội nhưng cũng tràn đầy nguy hiểm của tự nhiên Tây Bắc. Nhưng những trắc trở đấy ko khiến họ chùn bước. Ở đoạn thơ, ta vẫn bắt gặp chút phảng phất của một tâm hồn lãng mạn, hào hoa. Trong những đêm hành quân khó khăn, họ vẫn nghĩ về hoa, về những mái nhà, từ đó thấy được tâm hồn trẻ trung, sáng sủa, ko đầu hàng trước khó khăn của những người lính.
…/…
Từ dàn ý Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến nhưng Top loigiai đã hướng dẫn trên đây, các em hãy vận dụng tri thức đã học, liên kết với cách hành văn của mình để làm thành một bài viết hoàn chỉnh nhé. Ngoài ra, chúng tôi thường xuyên cập nhật những bài văn mẫu lớp 12 hay nhất phục vụ việc học văn của các em. Chúc các em luôn học vui và học tốt!
Đăng bởi: Trường THPT Diễn Châu 2
Phân mục: Lớp 12, Ngữ Văn 12

#Phân #tích #câu #thơ #đầu #của #bài #thơ #Tây #Tiếnhay #nhất

Bạn thấy bài viết Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến(hay nhất) có giải quyết đươc vấn đề bạn tìm hiểu không?, nếu  không hãy comment góp ý thêm về Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến(hay nhất) bên dưới để dienchau2.edu.vn có thể chỉnh sửa & cải thiện nội dung tốt hơn cho độc giả nhé! Cám ơn bạn đã ghé thăm Website Trường THPT Diễn Châu 2

Nhớ để nguồn: Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến(hay nhất) tại Kiến thức chung

THPT Diễn Châu 2

THPT Diễn Châu 2 – Nghệ An được thành lập vào năm 1965. Trường được tách từ Trường cấp 3 Diễn Châu 1 thành THPT Diễn Châu 2 và THPT Nguyễn Xuân Ôn. Ngôi trường THPT Diễn Châu 2 – Nghệ An mang nhiệm vụ đào tạo các thế hệ học sinh của vùng Trung, Bắc Diễn Châu và một số xã của huyện Yên Thành như: Đô Thành, Đức Thành, Thọ Thành.

Những bài viết liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button