Dàn ý cảm nhận vẻ đẹp lãng mạng và bi tráng của người lính Tây Tiến ở khổ thơ ba trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng(hay nhất)

Dàn ý cảm nhận vẻ đẹp lãng mạng và bi tráng của người lính Tây Tiến ở khổ thơ ba trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng

(hay nhất)

Hình Ảnh về: Dàn ý cảm nhận vẻ đẹp lãng mạng và bi tráng của người lính Tây Tiến ở khổ thơ ba trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng

(hay nhất)

Video về: Dàn ý cảm nhận vẻ đẹp lãng mạng và bi tráng của người lính Tây Tiến ở khổ thơ ba trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng

(hay nhất)

Wiki về Dàn ý cảm nhận vẻ đẹp lãng mạng và bi tráng của người lính Tây Tiến ở khổ thơ ba trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng

(hay nhất)

Dàn ý cảm nhận vẻ đẹp lãng mạng và bi tráng của người lính Tây Tiến ở khổ thơ ba trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng

(hay nhất) –

Tham khảo Lập dàn ý cảm nhận vẻ đẹp lãng mạn và bi tráng của người lính Tây Tiến trong khổ thơ thứ ba bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng, từ đó nắm được các ý chính và cách triển khai các luận điểm để hoàn thành bài viết một cách trọn vẹn nhất. Mời các bạn cùng tham khảo!

Lập dàn ý cảm nhận vẻ đẹp lãng mạn và bi tráng của người lính Tây Tiến trong khổ thơ thứ ba bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng

I. Giới thiệu:

Cuộc kháng chiến chống Pháp đi qua đã để lại những dấu ấn ko thể phai mờ trong tâm hồn dân tộc. Là nơi tụ hội của triệu trái tim yêu nước, là môi trường để thử thách ý thức tranh đấu ngoan cường, quật cường của nhân dân ta. Cuộc kháng chiến cũng làm phát sinh nhiều hình ảnh đẹp, trong đó đẹp nhất là hình ảnh người lính.

– Quang Dũng là thi sĩ của người lính, đã sống một đời lính người hùng. Có nhẽ vì vậy nhưng mà cuộc đời người lính đã ăn sâu vào đời thơ của anh.

– “Tây Tiến” là bài thơ viết về người lính nên lúc đọc lên ta thấy ngay chất bi tráng của những chàng trai “Thạch Sanh thế kỉ XX”.

“Hướng Tây đoàn quân chẳng mọc tóc Quân xanh dữ tợn Mắt rộng gửi mộng qua biên giới Mơ vẻ đẹp thơm ngát Hà Nội.

Loáng thoáng khắp nơi biên cửa ải trận mạc, ko ngần ngại áo xanh đổi chiêu, anh trở về mảnh đất Sông Mã gầm lên một tiếng lao xao ”.

II. Nội dung bài đăng:

1. Sơ lượt:

Tây Tiến là chi đội được thành lập đầu năm 1947. Thành phần chủ yếu là thanh niên trí thức Hà Nội. Nhiệm vụ của họ là phối hợp với quân nhân Lào bảo vệ biên giới phía Tây. Năm 1948, Tây Tiến giải thể để thành lập Trung đoàn 52. Quang Dũng cũng chuyển sang đơn vị khác. Rời đơn vị cũ ko lâu, Quang Dũng đã sáng tác bài thơ này. Đây là khổ thơ thứ ba trong bài thơ “Tây Tiến”.

2. Khái niệm:

– Thảm kịch trong tác phẩm văn học trình bày ở việc mô tả hiện thực, ko tránh né thảm kịch, tức là gian truân, đau thương. Lòng trắc ẩn thường được trình bày qua âm điệu, âm thanh, màu sắc uy nghiêm.

– Chiến trường Tây Tiến khốc liệt, hoang vu, nhiều thú dữ, sốt rét rừng làm chết nhiều người, nhiều chiến sĩ hy sinh trên đường hành quân… Đó là thảm kịch, là hiện thực khốc liệt của chiến tranh. Quang Dũng ko tránh né viên bi nhưng mà tạo cho viên bi một giọng điệu, màu sắc tráng lệ, hào hùng để trở thành phẩm chất bi tráng. Chiếc “áo” này thuộc về Quang Dũng và cả một lớp thanh niên như anh lúc bấy giờ, mang trong mình dòng tính nóng “thề quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. “Tấm áo” đó được thổi vào bởi ngọn gió yêu nước của thời hào hùng oanh liệt hôm nay, nên càng hào hùng, rực rỡ. Đúng là “bài thơ này đã được rót vào và chắp cánh bởi khí phách của cả một thời đại” để cho phẩm chất bi tráng đó bay bổng như một vẻ đẹp hiếm có của một thời thơ ấu.

3. Thảm kịch ở khổ 3:

Chất bi tráng làm nên dung mạo của bài thơ hiện diện trong tác phẩm, nhưng nổi trội và đậm nét nhất ở khổ thơ thứ ba lúc Quang Dũng mô tả chân dung người lính. Giữa tự nhiên khắc nghiệt, hình ảnh người lính thật là bi tráng. Quang Dũng đã dùng những hình ảnh hiện thực để làm nổi trội sự phi thường của người lính:

Đoàn quân Tây Tiến ko mọc tóc

Quân xanh hùng dũng và khốc liệt

– Hai câu thơ đầu gợi vẻ đẹp bi tráng. Trước nhất là nỗi buồn gợi lên từ dáng vẻ của người lính: yếu ớt, hốc hác, trọc lóc, da xanh như lá. Có thể trông thấy cách diễn tả tinh tế của Quang Dũng lúc thi sĩ mô tả một đoàn quân “xanh như lá” chứ ko nhợt nhạt. Những người lính Tây tiến như hòa với tự nhiên, ốm nhưng ko yêu, gầy nhưng vẫn trẻ trung, tràn đầy sức sống. Nhắc tới hình ảnh “Đoàn quân ko mọc tóc”, tác giả đã gợi lên hình ảnh “người lính gác trần” một thời. Bài thơ mô tả sự dũng cảm của người lính, như có một câu chuyện tiếu lâm, ko cần phải sởn tóc gáy. Dù đói rét, bệnh tật và muôn vàn gian truân, người lính vẫn tràn đầy ý thức, vẫn “sợ hãi”. Thảm kịch tuy tàn khốc nhưng ko làm át được cái người hùng. Dù đã tiều tụy về hình dáng nhưng ý thức vẫn quật cường, dũng cảm như chúa sơn lâm, vẫn kiên định lý tưởng cách mệnh qua hình ảnh đôi mắt sáng ngời: “Mắt trừng… thơm”. Đó là ước mơ tranh đấu và thắng lợi. Ở đây, chúng ta thấy được ý chí và tình yêu của người lính. “Chi” trong ánh mắt của thần chết, “tình yêu” trong giấc mơ lãng mạn: “Đêm… .thom”. Hình ảnh Hà Nội và dáng kiều thơm hiện lên trong đêm mộng là nguồn động viên, khích lệ ý thức cho các chiến sĩ. Một tháng ký ức trong sáng và êm đềm đó đã tiếp thêm sức mạnh cho họ trong trận chiến gian truân. Có nhẽ lý tưởng cách mệnh làm cho tình yêu ngày càng cao cả. Đó là hai bức tranh khắc họa chân thực và cảm động về cả một thế hệ người Việt Nam đang vất vả gác lại tình riêng và ra đi vì nghĩa lớn.

– Được gọi về trong nỗi nhớ, Quang Dũng nhắc tới sự hy sinh của người lính Tây Tiến. Tác giả nhìn thẳng vào viên bi nhưng lại mang tới cho nó vẻ đẹp kiêu hùng, uy nghi và sang trọng:

Loáng thoáng khắp biên giới, bôn ba chiến trường, ko tiếc đời xanh, áo bào thay hành, anh trở về mảnh đất Sông Mã, gầm lên khúc độc hành.

Lập dàn ý để cảm nhận vẻ đẹp lãng mạn và bi tráng của người lính Tây Tiến trong khổ thơ thứ ba của bài thơ.

– Dù nói về cái chết, đau thương, mất mát nhưng Quang Dũng ko dùng từ bi quan. Việc sử dụng các từ Hán Việt “biên giới”, “xa xôi”, “áo dài” một cách trang trọng đã làm mờ đi cái lạnh lẽo, bi tráng, làm cho sự hy sinh của những người lính Tây Tiến được đặt trong ko khí thiêng liêng. trang trọng, tạo thái độ trân trọng, quý mến cho người đọc. Và cảm giác âm u, đáng thương nhanh chóng được xóa tan bởi cái tứ hùng tráng, rắn rỏi như một lời thề ở câu 2.

Ra chiến trường ko tiếc đời xanh.

Hình tượng thơ khẳng định mạnh mẽ khí phách của tuổi xanh một thời ko chỉ tự nguyện chấp nhận nhưng mà còn vượt lên trên cái chết, sẵn sàng hiến dâng cả sinh mạng và tuổi xanh cho sự nghiệp cao cả của nhân dân. dân tộc. Họ ra đi với tất cả tâm huyết của một thanh niên yêu nước, sẵn sàng góp sức cuộc sống tốt đẹp nhất cho Tổ quốc. Có người chưa yêu một cô gái, rơi xuống đất vẫn là đàn ông. Người nào nhưng mà ko mang trong mình khát vọng hạnh phúc và tình yêu tuổi xanh, người nào chẳng mong cho mình được sống với tuổi xanh hạnh phúc đầy hoa và mộng. Nhưng những người lính nơi đây ko hề tiếc thương mình, phải chăng trong họ dòng máu hào hùng của thời đại đã in sâu vào tâm trí và hòa cùng dòng máu Lạc Hồng nghìn năm lịch sử. Hình tượng người lính bi tráng và quả cảm của Quang Dũng đã nói lên một điều mấu chốt trong tư cách người lính, đó là biết hy sinh, biết gian truân nhưng vẫn ra đi, họ ra đi “ko tiếc đời xanh”. vì họ đã góp sức tuổi thanh xuân của mình cho những lý tưởng cao đẹp, tranh đấu vì non sông. Họ ra đi và bình yên vô sự:

Áo bào thay chiếu, em về đất

Live Ma rống lên hát solo

– Cách nói “áo thay nước đi” là cách nói bi tráng về sự hi sinh của người chiến sĩ. Hiện thực phũ phàng, bi thương đó đã được thi vị hóa qua hình ảnh “tấm áo” sang trọng để những người anh “về đây” thanh thản, nhẹ nhõm. Quang Dũng kể lại rằng “lúc liệt sĩ nằm xuống, người ta ko đủ sức để quấn lấy, nói áo thay khăn là mượn lời thơ xưa để xoa dịu đồng chí đã ngã xuống”. Hơn nữa, “y phục” còn gợi tới hình ảnh những vị võ tướng ngày xưa quả cảm, hào hoa, nên vong binh cũng xứng đáng uy nghiêm ko kém. Người hùng, bi tráng chứ ko bi quan, bi tráng… Ý thức đó còn được bồi đắp trong câu thơ “Sống… làm”. Tự nhiên gầm lên một khúc ca tuyệt đẹp làm rung động đất trời, đưa bạn về cõi vĩnh hằng. Câu thơ ngân vang như một bản nhạc hào hùng. Âm hưởng hào hùng của bài ca liệt sĩ vang lên từ tiếng “reo hò”. Tiếng gầm đó là một khúc ca bi tráng, khúc hát tiễn đưa người lính về nơi an nghỉ cuối cùng. Bản hùng ca của tự nhiên đã trở thành tiếng khóc nâng sự hy sinh của người lính lên tầm sử thi.

III. Hoàn thành:

– Tóm lại, thành công của đoạn thơ là thi sĩ đã sử dụng nhiều từ Hán Việt gợi sắc thái cổ tích nghiêm trang; sử dụng nghệ thuật đối lập, tư cách hoá, cách nói giảm. Ca từ súc tích, vừa hiện thực vừa giàu sức gợi đã dựng lên hình tượng người lính Tây Tiến, dấu ấn của một thời đại bi tráng nhưng đầy bi tráng. Vẻ đẹp đó ko chỉ là của những người lính Tây Tiến nhưng mà còn là gương mặt ý thức bất tử của những người lính Việt Nam nói chung trong các cuộc trường chinh vệ quốc.

Trên đây là Lập dàn ý cảm nhận vẻ đẹp lãng mạn và bi tráng của người lính Tây Tiến trong khổ thơ thứ ba bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng làm Trường Trường THPT Diễn Châu 2 Được sưu tầm, mong rằng với nội dung tham khảo này các em có thể phát huy tốt nhất bài văn của mình, chúc các em học tốt môn Ngữ Văn!

Đăng bởi: Trường THPT Diễn Châu 2

Phân mục: Văn lớp 12, Ngữ văn 12

[rule_{ruleNumber}]

#Dàn #cảm #nhận #vẻ #đẹp #lãng #mạng #và #tráng #của #người #lính #Tây #Tiến #ở #khổ #thơ #trong #bài #thơ #Tây #Tiến #của #Quang #Dũng #hay #nhất

[rule_3_plain]

#Dàn #cảm #nhận #vẻ #đẹp #lãng #mạng #và #tráng #của #người #lính #Tây #Tiến #ở #khổ #thơ #trong #bài #thơ #Tây #Tiến #của #Quang #Dũng #hay #nhất

Tham khảo Dàn ý cảm nhận vẻ đẹp lãng mạng và bi tráng của người lính Tây Tiến ở khổ thơ ba trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng, qua đó nắm được những ý chính và cách triển khai các luận điểm nhằm hoàn thiện bài viết một cách hoàn chỉnh nhất. Mời các bạn cùng tham khảo!

Dàn ý cảm nhận vẻ đẹp lãng mạng và bi tráng của người lính Tây Tiến ở khổ thơ ba trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng
I. Mở bài:
–  Cuộc kháng chiến chống Pháp đi qua để lại những dâu ấn ko thể phai mờ trong tâm hồn dân tộc. Đó là điểm tụ hội của một triệu tấm lòng yêu nước, là môi trường thử thách ý thức tranh đấu ngoan cường quật cường của nhân dân ta. Cuộc kháng chiến còn làm phát sinh biết bao hình ảnh đẹp nhưng mà đẹp nhất là hình ảnh người lính.
–  Quang Dũng là thi sĩ của lính, đã sống một đời lính thật oanh liệt hào hùng. Có nhẽ vì vậy nhưng mà đời lính đã ăn sâu vào đời thơ.
–  “Tây Tiến” là bài thơ của lính viết về lính nên lúc đọc lên ta thấy ngay chất bi tráng của những chàng trai “Thạch Sanh thếkỉ XX”.
“Tây tiến đoàn binh ko mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hừm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.

   Tản mạn biên giới mồ viễn xứ Chiến trường di chẳng tiếc dời xanh Áo bào thay chiêu, anh về đất Sống Mã gầm lên khúc dộc hành”.

II. Thân bài:
1. Nói chung:
   Tây Tiến là một phân hiệu quân nhân được thành lập đầu năm 1947. Thành phần chủ yêu là các thanh niên trí thức Hà Nội. Nhiệm vụ của họ là phối hợp với quân nhân Lào bảo vệ biên giới phía tây. Năm 1948, Tây Tiến giải thể để thành lập Trung đoàn 52. Quang Dũng cũng chuyển sang đơn vị khác. Sau lúc rời khỏi đơn vị cũ chưa được bao lâu, Quang Dũng đã sáng tác bài thơ này. Đây là đoạn thơ thứ ba trong bài “Tây Tiến”.
2. Khái niệm:
–  Bi tráng trong tác phẩm văn học được trình bày ở việc mô tả hiện thực, ko tránh né cái bi, tức cái gian truân, đau thương. Cái bi thường được biểu thị ở giọng điệu, âm hưởng, màu sắc tráng lệ hào hùng.
–  Chiến trường Tây Tiến khốc liệt, hoang vu, nhiều thú dữ, bệnh sốt rét rừng gây nhiều tử vong, nhiều chiến sĩ đã ngã xuống trên đường hành quân… Đó là cái bi, là cái hiện thực khốc liệt của trận chiến. Quang Dũng ko trốn tránh cái bi nhưng đem lại cho cái bi màu sắc và âm hưởng tráng lệ, hào hùng để thành chất bi tráng. Cái “tráng” này là của Quang Dũng và của cả một lớp trẻ trai như ông thời đó, mang trong lòng một bầu tính nóng “thề quyết tử cho Tổ quôc quyết sinh”. Cái “tráng” đó lại được luồng gió yêu nước của thời người hùng rực lửa thời hiện thời thổi vào nên lại càng hào hùng, rực rỡ. Đúng là “bài thơ này đã được khí phách của cả một thời đại ùa vào, chắp cánh” để cho cái chất bi tráng đó bay lên như một nét đẹp hiếm có của một thời thơ.
3. Chất bi tráng ở khổ 3:
–  Chất bi tráng làm nên sắc diện của bài thơ, có mặt trong tác phẩm, nhưng nổi rõ và in đậm nhất ở đoạn thơ thứ 3 lúc Quang Dũng mô tả chân dung người lính. Giữa nền tự nhiên khắc nghiệt, hình ảnh người lính hiện lên thật là bi tráng. Quang Dũng đã dùng những hình ảnh sát hiện thực để tô đậm cái phi thường của người lính:
Tây Tiến đoàn binh ko mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
–  Hai câu thơ đầu gợi lên vẻ đẹp bi tráng. Trước nhất đó là cái bi thương được gợi lên từ ngoại hình của người lính: ốm yếu, tiều tụy, đầu trọc, da dẻ xanh như tàu lá. Có thể trông thấy cách diễn tả tinh tếcủa Quang Dũng lúc thi sĩ mô tả một đoàn quân “xanh như tàu lá” chứ ko phải xanh xao. Người lính Tây tiến như hòa với tự nhiên cây lá, ốm nhưng mà ko yêu, gầy ốm nhưng mà vẫn trẻ trung, tràn đầy sức sống. Nhắc tới hình ảnh “Đoàn quân ko mọc tóc” tác giả đã gợi lên hình ảnh anh “vệ trọc” một thời. Câu thơ tả cái ngang tàng của người lính, lại như có nét đùa vui hóm hỉnh, ko cần tóc mọc. Dù đói rét, bệnh tật và muôn vàn gian truân, nhưng người lính vẫn bừng bừng khí thế, vẫn “dữ oai hùm”. Cái bi nghiệt ngã nhưng ko hề lân át cái hùng. Dù có tiều tụy về hình hài nhưng ý thức vẫn khỏe khoắn, hùng dũng như chúa sơn lâm, vẫn kiến định lí tưởng cách mệnh qua hình ảnh đôi mắt ngời sáng: “Mắt trừng… thơm”. Đó là cái mộng tranh đấu và thắng lợi. Ớ đây, ta thấy được cái chí và cái tình của người lính. “Chí” trong ánh mắt quyết tử, “tình” bâng khuâng trong giấc mơ lãng mạn: “Đêm….thom”. Hình ảnh Hà Nội và dáng kiều thơm hiện về trong đêm mơ là nguồn động viên, động viên đối với các chiến sĩ. Một tháng kỉ niệm êm đềm trong sáng đó đã tiếp sức cho họ trong trận chiến đấu gian nan. Có nhẽ lí tưởng cách mệnh khiến tình mến thương thêm cao cả, lớn lao. Đó là hai nét khắc họa chân thực và cảm động về cả một thếhệ người Việt dằn lòng gạt tình riêng, ra đi vì nghĩa lớn.
–  Gọi về trong kí ức, Quang Dũng nhắc tới sự hi sinh của người lính Tây Tiến. Tác giả nhìn thẳng vào trong cái bi nhưng đem lại cho nó một vẻ đẹp hào hùng, lẫm liệt và sang trọng:
   Tản mạn biên giới mố viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Áo bào thay chiêu, anh vềđất Sống Mã gầm lên khúc độc hành.

–  Dù nói về cái chết, nỗi đau thương mất mát nhưng Quang Dũng lại ko dùng những từ ngữ bi người nào. Cách dùng từ Hán Việt “biên giới”, “viễn xứ”, “áo bào” trang trọng đã khiến cái bi thương, lạnh lẽo mờ đi, làm cho sự hi sinh của chiến sĩ Tây Tiến được đặt vào một ko khí thiêng liêng trang trọng, tạo tâm thế ngưỡng mộ đầy tôn kính cho người đọc. Và cảm giác âm u, ngậm ngùi nhanh chóng bị xóa đi bởi tứ thơ mạnh mẽ, rắn rỏi như một lời tuyên thệ trong câu 2.
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
–  Hình tượng thơ đậm chất bi tráng, khẳng định mạnh mẽ khí phách của tuổi xanh một thời ko chỉ tự nguyện châp nhận nhưng mà còn vượt lên trên cái chết, sẵn sàng dâng hiên cả sự sống, cả tuổi xanh cho nghĩa lớn của dân tộc. Họ đã ra đi với tất cả lòng say mê của người thanh niên yêu nước, sẵn sàng hiên dâng phần đời đẹp nhất cho non sông. Có người chưa kịp yêu một người con gái, ngã vào lòng đất vẫn còn là đàn ông. Tuổi xanh người nào chẳng mang trong mình một khát vọng hạnh phúc tình yêu, người nào chẳng mong cho mình được sống với tuổi thanh xuân hạnh phúc đầy hoa mộng. Thế nhưng người lính ở đây lại chẳng tiếc cho mình, phải chăng ở họ cái máu người hùng của thời đại đã in đậm trong trí tuệ hòa cùng dòng máu Lạc Hồng mây nghìn năm lịch sử. Hình ảnh người lính bi tráng và hào hùng bởi Quang Dũng đã nói được một điều mấu chốt trong tư cách của người lính, đó là biết hi sinh, biết gian truân nhưng vẫn cứ ra đi, họ ra đi “chẳng tiếc đời xanh” bởi họ hiến dâng tuổi thanh xuân cho lý tưởng cao đẹp, tranh đấu vì tổ quốc. Họ ra đi và ngã xuống thanh thản ko một tẹo vướng bận:
Áo bào thay chiếu, anh về đất
Sống Mã gầm lên khúc độc hành
–  Cách nói “áo bào thay chiêu” là cách nói bi tráng hóa sự hi sinh của người lính. Hiện thực bi thương khôc liệt đã được thi vị hóa qua hình ảnh “áo bào” thật sang trọng để các anh “về đâV’ thanh thản, nhẹ nhõm. Quang Dũng có kể lại “lúc tử sĩ nằm xuống ko đủ manh chiêu để liệm, nói áo bào thay chiêu là mượn cách nói của thơ trước đây để xoa dịu những người đổng chí vừa ngã xuống.” Hơn nữa, “áo bào” còn gợi ra hình ảnh của các bậc võ tướng xưa kiêu hùng hiên ngang thì cái chết của những người lính cũng xứng tầm uy phong trang trọng như thế. Bi tráng, bi tráng chứ ko bi thương, bi quan… Ý thức đó còn được nâng đỡ ở câu thơ “Sống… hành”. Tự nhiên gầm lên khúc tráng ca làm rung rinh cả trời đất đưa các anh về với cõi vĩnh hằng. Câu thơ vẻ vang như một khúc nhạc kỳ vĩ. Âm hưởng bi tráng của khúc chiêu hồn tử sĩ dội lên từ chữ “gầm”. Tiếng gầm đó là khúc nhạc bi tráng, khúc nhạc tiễn đưa người lính về nơi an nghỉ cuối cùng. Khúc tráng ca của tự nhiên trở thành  tiếng khóc lớn nâng sự hi sinh của người lính lên tầm sử thi.
III.   Kết bài:
– Tóm lại, thành công của đoạn thơ là thi sĩ đã sử dụng nhiều từ Hán Việt gợi sắc thái cổ tích nghiêm trang; sử dụng nghệ thuật đối lập, nhân hóa, nói giảm nói tránh. Lời thơ súc tích, vừa đượm chất hiện thực vừa gợi chất hào hùng đã dựng lên bức tượng đài về người lính Tây Tiến, dấu ấn của một thời đại bi thương nhưng đầy bi tráng. Vẻ đẹp đó ko chỉ của những nười lính Tây Tiến nhưng mà còn là gương mặt ý thức bất tử của người lính Việt Nam nói chung trong suốt các cuộc trường chinh vệ quốc lớn lao.
Trên đây là Dàn ý cảm nhận vẻ đẹp lãng mạng và bi tráng của người lính Tây Tiến ở khổ thơ ba trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng do Trường THPT Diễn Châu 2 sưu tầm được, mong rằng với nội dung tham khảo này các em có thể triển khai bài văn của mình tốt nhất, chúc các em học tốt môn Văn!
Đăng bởi: Trường THPT Diễn Châu 2
Phân mục: Lớp 12, Ngữ Văn 12

#Dàn #cảm #nhận #vẻ #đẹp #lãng #mạng #và #tráng #của #người #lính #Tây #Tiến #ở #khổ #thơ #trong #bài #thơ #Tây #Tiến #của #Quang #Dũng #hay #nhất

[rule_2_plain]

#Dàn #cảm #nhận #vẻ #đẹp #lãng #mạng #và #tráng #của #người #lính #Tây #Tiến #ở #khổ #thơ #trong #bài #thơ #Tây #Tiến #của #Quang #Dũng #hay #nhất

[rule_2_plain]

#Dàn #cảm #nhận #vẻ #đẹp #lãng #mạng #và #tráng #của #người #lính #Tây #Tiến #ở #khổ #thơ #trong #bài #thơ #Tây #Tiến #của #Quang #Dũng #hay #nhất

[rule_3_plain]

#Dàn #cảm #nhận #vẻ #đẹp #lãng #mạng #và #tráng #của #người #lính #Tây #Tiến #ở #khổ #thơ #trong #bài #thơ #Tây #Tiến #của #Quang #Dũng #hay #nhất

Xem thêm:  Soạn bài Thực hành tiếng Việt trang 47, ngắn gọn, Ngữ văn lớp 6 – KNTT

Tham khảo Dàn ý cảm nhận vẻ đẹp lãng mạng và bi tráng của người lính Tây Tiến ở khổ thơ ba trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng, qua đó nắm được những ý chính và cách triển khai các luận điểm nhằm hoàn thiện bài viết một cách hoàn chỉnh nhất. Mời các bạn cùng tham khảo!

Dàn ý cảm nhận vẻ đẹp lãng mạng và bi tráng của người lính Tây Tiến ở khổ thơ ba trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng
I. Mở bài:
–  Cuộc kháng chiến chống Pháp đi qua để lại những dâu ấn ko thể phai mờ trong tâm hồn dân tộc. Đó là điểm tụ hội của một triệu tấm lòng yêu nước, là môi trường thử thách ý thức tranh đấu ngoan cường quật cường của nhân dân ta. Cuộc kháng chiến còn làm phát sinh biết bao hình ảnh đẹp nhưng mà đẹp nhất là hình ảnh người lính.
–  Quang Dũng là thi sĩ của lính, đã sống một đời lính thật oanh liệt hào hùng. Có nhẽ vì vậy nhưng mà đời lính đã ăn sâu vào đời thơ.
–  “Tây Tiến” là bài thơ của lính viết về lính nên lúc đọc lên ta thấy ngay chất bi tráng của những chàng trai “Thạch Sanh thếkỉ XX”.
“Tây tiến đoàn binh ko mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hừm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.

   Tản mạn biên giới mồ viễn xứ Chiến trường di chẳng tiếc dời xanh Áo bào thay chiêu, anh về đất Sống Mã gầm lên khúc dộc hành”.

II. Thân bài:
1. Nói chung:
   Tây Tiến là một phân hiệu quân nhân được thành lập đầu năm 1947. Thành phần chủ yêu là các thanh niên trí thức Hà Nội. Nhiệm vụ của họ là phối hợp với quân nhân Lào bảo vệ biên giới phía tây. Năm 1948, Tây Tiến giải thể để thành lập Trung đoàn 52. Quang Dũng cũng chuyển sang đơn vị khác. Sau lúc rời khỏi đơn vị cũ chưa được bao lâu, Quang Dũng đã sáng tác bài thơ này. Đây là đoạn thơ thứ ba trong bài “Tây Tiến”.
2. Khái niệm:
–  Bi tráng trong tác phẩm văn học được trình bày ở việc mô tả hiện thực, ko tránh né cái bi, tức cái gian truân, đau thương. Cái bi thường được biểu thị ở giọng điệu, âm hưởng, màu sắc tráng lệ hào hùng.
–  Chiến trường Tây Tiến khốc liệt, hoang vu, nhiều thú dữ, bệnh sốt rét rừng gây nhiều tử vong, nhiều chiến sĩ đã ngã xuống trên đường hành quân… Đó là cái bi, là cái hiện thực khốc liệt của trận chiến. Quang Dũng ko trốn tránh cái bi nhưng đem lại cho cái bi màu sắc và âm hưởng tráng lệ, hào hùng để thành chất bi tráng. Cái “tráng” này là của Quang Dũng và của cả một lớp trẻ trai như ông thời đó, mang trong lòng một bầu tính nóng “thề quyết tử cho Tổ quôc quyết sinh”. Cái “tráng” đó lại được luồng gió yêu nước của thời người hùng rực lửa thời hiện thời thổi vào nên lại càng hào hùng, rực rỡ. Đúng là “bài thơ này đã được khí phách của cả một thời đại ùa vào, chắp cánh” để cho cái chất bi tráng đó bay lên như một nét đẹp hiếm có của một thời thơ.
3. Chất bi tráng ở khổ 3:
–  Chất bi tráng làm nên sắc diện của bài thơ, có mặt trong tác phẩm, nhưng nổi rõ và in đậm nhất ở đoạn thơ thứ 3 lúc Quang Dũng mô tả chân dung người lính. Giữa nền tự nhiên khắc nghiệt, hình ảnh người lính hiện lên thật là bi tráng. Quang Dũng đã dùng những hình ảnh sát hiện thực để tô đậm cái phi thường của người lính:
Tây Tiến đoàn binh ko mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
–  Hai câu thơ đầu gợi lên vẻ đẹp bi tráng. Trước nhất đó là cái bi thương được gợi lên từ ngoại hình của người lính: ốm yếu, tiều tụy, đầu trọc, da dẻ xanh như tàu lá. Có thể trông thấy cách diễn tả tinh tếcủa Quang Dũng lúc thi sĩ mô tả một đoàn quân “xanh như tàu lá” chứ ko phải xanh xao. Người lính Tây tiến như hòa với tự nhiên cây lá, ốm nhưng mà ko yêu, gầy ốm nhưng mà vẫn trẻ trung, tràn đầy sức sống. Nhắc tới hình ảnh “Đoàn quân ko mọc tóc” tác giả đã gợi lên hình ảnh anh “vệ trọc” một thời. Câu thơ tả cái ngang tàng của người lính, lại như có nét đùa vui hóm hỉnh, ko cần tóc mọc. Dù đói rét, bệnh tật và muôn vàn gian truân, nhưng người lính vẫn bừng bừng khí thế, vẫn “dữ oai hùm”. Cái bi nghiệt ngã nhưng ko hề lân át cái hùng. Dù có tiều tụy về hình hài nhưng ý thức vẫn khỏe khoắn, hùng dũng như chúa sơn lâm, vẫn kiến định lí tưởng cách mệnh qua hình ảnh đôi mắt ngời sáng: “Mắt trừng… thơm”. Đó là cái mộng tranh đấu và thắng lợi. Ớ đây, ta thấy được cái chí và cái tình của người lính. “Chí” trong ánh mắt quyết tử, “tình” bâng khuâng trong giấc mơ lãng mạn: “Đêm….thom”. Hình ảnh Hà Nội và dáng kiều thơm hiện về trong đêm mơ là nguồn động viên, động viên đối với các chiến sĩ. Một tháng kỉ niệm êm đềm trong sáng đó đã tiếp sức cho họ trong trận chiến đấu gian nan. Có nhẽ lí tưởng cách mệnh khiến tình mến thương thêm cao cả, lớn lao. Đó là hai nét khắc họa chân thực và cảm động về cả một thếhệ người Việt dằn lòng gạt tình riêng, ra đi vì nghĩa lớn.
–  Gọi về trong kí ức, Quang Dũng nhắc tới sự hi sinh của người lính Tây Tiến. Tác giả nhìn thẳng vào trong cái bi nhưng đem lại cho nó một vẻ đẹp hào hùng, lẫm liệt và sang trọng:
   Tản mạn biên giới mố viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Áo bào thay chiêu, anh vềđất Sống Mã gầm lên khúc độc hành.

–  Dù nói về cái chết, nỗi đau thương mất mát nhưng Quang Dũng lại ko dùng những từ ngữ bi người nào. Cách dùng từ Hán Việt “biên giới”, “viễn xứ”, “áo bào” trang trọng đã khiến cái bi thương, lạnh lẽo mờ đi, làm cho sự hi sinh của chiến sĩ Tây Tiến được đặt vào một ko khí thiêng liêng trang trọng, tạo tâm thế ngưỡng mộ đầy tôn kính cho người đọc. Và cảm giác âm u, ngậm ngùi nhanh chóng bị xóa đi bởi tứ thơ mạnh mẽ, rắn rỏi như một lời tuyên thệ trong câu 2.
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
–  Hình tượng thơ đậm chất bi tráng, khẳng định mạnh mẽ khí phách của tuổi xanh một thời ko chỉ tự nguyện châp nhận nhưng mà còn vượt lên trên cái chết, sẵn sàng dâng hiên cả sự sống, cả tuổi xanh cho nghĩa lớn của dân tộc. Họ đã ra đi với tất cả lòng say mê của người thanh niên yêu nước, sẵn sàng hiên dâng phần đời đẹp nhất cho non sông. Có người chưa kịp yêu một người con gái, ngã vào lòng đất vẫn còn là đàn ông. Tuổi xanh người nào chẳng mang trong mình một khát vọng hạnh phúc tình yêu, người nào chẳng mong cho mình được sống với tuổi thanh xuân hạnh phúc đầy hoa mộng. Thế nhưng người lính ở đây lại chẳng tiếc cho mình, phải chăng ở họ cái máu người hùng của thời đại đã in đậm trong trí tuệ hòa cùng dòng máu Lạc Hồng mây nghìn năm lịch sử. Hình ảnh người lính bi tráng và hào hùng bởi Quang Dũng đã nói được một điều mấu chốt trong tư cách của người lính, đó là biết hi sinh, biết gian truân nhưng vẫn cứ ra đi, họ ra đi “chẳng tiếc đời xanh” bởi họ hiến dâng tuổi thanh xuân cho lý tưởng cao đẹp, tranh đấu vì tổ quốc. Họ ra đi và ngã xuống thanh thản ko một tẹo vướng bận:
Áo bào thay chiếu, anh về đất
Sống Mã gầm lên khúc độc hành
–  Cách nói “áo bào thay chiêu” là cách nói bi tráng hóa sự hi sinh của người lính. Hiện thực bi thương khôc liệt đã được thi vị hóa qua hình ảnh “áo bào” thật sang trọng để các anh “về đâV’ thanh thản, nhẹ nhõm. Quang Dũng có kể lại “lúc tử sĩ nằm xuống ko đủ manh chiêu để liệm, nói áo bào thay chiêu là mượn cách nói của thơ trước đây để xoa dịu những người đổng chí vừa ngã xuống.” Hơn nữa, “áo bào” còn gợi ra hình ảnh của các bậc võ tướng xưa kiêu hùng hiên ngang thì cái chết của những người lính cũng xứng tầm uy phong trang trọng như thế. Bi tráng, bi tráng chứ ko bi thương, bi quan… Ý thức đó còn được nâng đỡ ở câu thơ “Sống… hành”. Tự nhiên gầm lên khúc tráng ca làm rung rinh cả trời đất đưa các anh về với cõi vĩnh hằng. Câu thơ vẻ vang như một khúc nhạc kỳ vĩ. Âm hưởng bi tráng của khúc chiêu hồn tử sĩ dội lên từ chữ “gầm”. Tiếng gầm đó là khúc nhạc bi tráng, khúc nhạc tiễn đưa người lính về nơi an nghỉ cuối cùng. Khúc tráng ca của tự nhiên trở thành  tiếng khóc lớn nâng sự hi sinh của người lính lên tầm sử thi.
III.   Kết bài:
– Tóm lại, thành công của đoạn thơ là thi sĩ đã sử dụng nhiều từ Hán Việt gợi sắc thái cổ tích nghiêm trang; sử dụng nghệ thuật đối lập, nhân hóa, nói giảm nói tránh. Lời thơ súc tích, vừa đượm chất hiện thực vừa gợi chất hào hùng đã dựng lên bức tượng đài về người lính Tây Tiến, dấu ấn của một thời đại bi thương nhưng đầy bi tráng. Vẻ đẹp đó ko chỉ của những nười lính Tây Tiến nhưng mà còn là gương mặt ý thức bất tử của người lính Việt Nam nói chung trong suốt các cuộc trường chinh vệ quốc lớn lao.
Trên đây là Dàn ý cảm nhận vẻ đẹp lãng mạng và bi tráng của người lính Tây Tiến ở khổ thơ ba trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng do Trường THPT Diễn Châu 2 sưu tầm được, mong rằng với nội dung tham khảo này các em có thể triển khai bài văn của mình tốt nhất, chúc các em học tốt môn Văn!
Đăng bởi: Trường THPT Diễn Châu 2
Phân mục: Lớp 12, Ngữ Văn 12

xem thêm thông tin chi tiết về Dàn ý cảm nhận vẻ đẹp lãng mạng và bi tráng của người lính Tây Tiến ở khổ thơ ba trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng(hay nhất)

Dàn ý cảm nhận vẻ đẹp lãng mạng và bi tráng của người lính Tây Tiến ở khổ thơ ba trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng(hay nhất)

Hình Ảnh về: Dàn ý cảm nhận vẻ đẹp lãng mạng và bi tráng của người lính Tây Tiến ở khổ thơ ba trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng(hay nhất)

Video về: Dàn ý cảm nhận vẻ đẹp lãng mạng và bi tráng của người lính Tây Tiến ở khổ thơ ba trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng(hay nhất)

Wiki về Dàn ý cảm nhận vẻ đẹp lãng mạng và bi tráng của người lính Tây Tiến ở khổ thơ ba trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng(hay nhất)

Dàn ý cảm nhận vẻ đẹp lãng mạng và bi tráng của người lính Tây Tiến ở khổ thơ ba trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng(hay nhất) -

Dàn ý cảm nhận vẻ đẹp lãng mạng và bi tráng của người lính Tây Tiến ở khổ thơ ba trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng

(hay nhất)

Hình Ảnh về: Dàn ý cảm nhận vẻ đẹp lãng mạng và bi tráng của người lính Tây Tiến ở khổ thơ ba trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng

(hay nhất)

Video về: Dàn ý cảm nhận vẻ đẹp lãng mạng và bi tráng của người lính Tây Tiến ở khổ thơ ba trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng

(hay nhất)

Wiki về Dàn ý cảm nhận vẻ đẹp lãng mạng và bi tráng của người lính Tây Tiến ở khổ thơ ba trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng

(hay nhất)

Dàn ý cảm nhận vẻ đẹp lãng mạng và bi tráng của người lính Tây Tiến ở khổ thơ ba trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng

(hay nhất) -

Tham khảo Lập dàn ý cảm nhận vẻ đẹp lãng mạn và bi tráng của người lính Tây Tiến trong khổ thơ thứ ba bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng, từ đó nắm được các ý chính và cách triển khai các luận điểm để hoàn thành bài viết một cách trọn vẹn nhất. Mời các bạn cùng tham khảo!

Lập dàn ý cảm nhận vẻ đẹp lãng mạn và bi tráng của người lính Tây Tiến trong khổ thơ thứ ba bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng

I. Giới thiệu:

Cuộc kháng chiến chống Pháp đi qua đã để lại những dấu ấn ko thể phai mờ trong tâm hồn dân tộc. Là nơi tụ hội của triệu trái tim yêu nước, là môi trường để thử thách ý thức tranh đấu ngoan cường, quật cường của nhân dân ta. Cuộc kháng chiến cũng làm phát sinh nhiều hình ảnh đẹp, trong đó đẹp nhất là hình ảnh người lính.

- Quang Dũng là thi sĩ của người lính, đã sống một đời lính người hùng. Có nhẽ vì vậy nhưng mà cuộc đời người lính đã ăn sâu vào đời thơ của anh.

- “Tây Tiến” là bài thơ viết về người lính nên lúc đọc lên ta thấy ngay chất bi tráng của những chàng trai “Thạch Sanh thế kỉ XX”.

“Hướng Tây đoàn quân chẳng mọc tóc Quân xanh dữ tợn Mắt rộng gửi mộng qua biên giới Mơ vẻ đẹp thơm ngát Hà Nội.

Loáng thoáng khắp nơi biên cửa ải trận mạc, ko ngần ngại áo xanh đổi chiêu, anh trở về mảnh đất Sông Mã gầm lên một tiếng lao xao ”.

II. Nội dung bài đăng:

1. Sơ lượt:

Tây Tiến là chi đội được thành lập đầu năm 1947. Thành phần chủ yếu là thanh niên trí thức Hà Nội. Nhiệm vụ của họ là phối hợp với quân nhân Lào bảo vệ biên giới phía Tây. Năm 1948, Tây Tiến giải thể để thành lập Trung đoàn 52. Quang Dũng cũng chuyển sang đơn vị khác. Rời đơn vị cũ ko lâu, Quang Dũng đã sáng tác bài thơ này. Đây là khổ thơ thứ ba trong bài thơ “Tây Tiến”.

2. Khái niệm:

- Thảm kịch trong tác phẩm văn học trình bày ở việc mô tả hiện thực, ko tránh né thảm kịch, tức là gian truân, đau thương. Lòng trắc ẩn thường được trình bày qua âm điệu, âm thanh, màu sắc uy nghiêm.

- Chiến trường Tây Tiến khốc liệt, hoang vu, nhiều thú dữ, sốt rét rừng làm chết nhiều người, nhiều chiến sĩ hy sinh trên đường hành quân… Đó là thảm kịch, là hiện thực khốc liệt của chiến tranh. Quang Dũng ko tránh né viên bi nhưng mà tạo cho viên bi một giọng điệu, màu sắc tráng lệ, hào hùng để trở thành phẩm chất bi tráng. Chiếc “áo” này thuộc về Quang Dũng và cả một lớp thanh niên như anh lúc bấy giờ, mang trong mình dòng tính nóng “thề quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. “Tấm áo” đó được thổi vào bởi ngọn gió yêu nước của thời hào hùng oanh liệt hôm nay, nên càng hào hùng, rực rỡ. Đúng là “bài thơ này đã được rót vào và chắp cánh bởi khí phách của cả một thời đại” để cho phẩm chất bi tráng đó bay bổng như một vẻ đẹp hiếm có của một thời thơ ấu.

3. Thảm kịch ở khổ 3:

Chất bi tráng làm nên dung mạo của bài thơ hiện diện trong tác phẩm, nhưng nổi trội và đậm nét nhất ở khổ thơ thứ ba lúc Quang Dũng mô tả chân dung người lính. Giữa tự nhiên khắc nghiệt, hình ảnh người lính thật là bi tráng. Quang Dũng đã dùng những hình ảnh hiện thực để làm nổi trội sự phi thường của người lính:

Đoàn quân Tây Tiến ko mọc tóc

Quân xanh hùng dũng và khốc liệt

- Hai câu thơ đầu gợi vẻ đẹp bi tráng. Trước nhất là nỗi buồn gợi lên từ dáng vẻ của người lính: yếu ớt, hốc hác, trọc lóc, da xanh như lá. Có thể trông thấy cách diễn tả tinh tế của Quang Dũng lúc thi sĩ mô tả một đoàn quân “xanh như lá” chứ ko nhợt nhạt. Những người lính Tây tiến như hòa với tự nhiên, ốm nhưng ko yêu, gầy nhưng vẫn trẻ trung, tràn đầy sức sống. Nhắc tới hình ảnh “Đoàn quân ko mọc tóc”, tác giả đã gợi lên hình ảnh “người lính gác trần” một thời. Bài thơ mô tả sự dũng cảm của người lính, như có một câu chuyện tiếu lâm, ko cần phải sởn tóc gáy. Dù đói rét, bệnh tật và muôn vàn gian truân, người lính vẫn tràn đầy ý thức, vẫn “sợ hãi”. Thảm kịch tuy tàn khốc nhưng ko làm át được cái người hùng. Dù đã tiều tụy về hình dáng nhưng ý thức vẫn quật cường, dũng cảm như chúa sơn lâm, vẫn kiên định lý tưởng cách mệnh qua hình ảnh đôi mắt sáng ngời: “Mắt trừng… thơm”. Đó là ước mơ tranh đấu và thắng lợi. Ở đây, chúng ta thấy được ý chí và tình yêu của người lính. “Chi” trong ánh mắt của thần chết, “tình yêu” trong giấc mơ lãng mạn: “Đêm… .thom”. Hình ảnh Hà Nội và dáng kiều thơm hiện lên trong đêm mộng là nguồn động viên, khích lệ ý thức cho các chiến sĩ. Một tháng ký ức trong sáng và êm đềm đó đã tiếp thêm sức mạnh cho họ trong trận chiến gian truân. Có nhẽ lý tưởng cách mệnh làm cho tình yêu ngày càng cao cả. Đó là hai bức tranh khắc họa chân thực và cảm động về cả một thế hệ người Việt Nam đang vất vả gác lại tình riêng và ra đi vì nghĩa lớn.

- Được gọi về trong nỗi nhớ, Quang Dũng nhắc tới sự hy sinh của người lính Tây Tiến. Tác giả nhìn thẳng vào viên bi nhưng lại mang tới cho nó vẻ đẹp kiêu hùng, uy nghi và sang trọng:

Loáng thoáng khắp biên giới, bôn ba chiến trường, ko tiếc đời xanh, áo bào thay hành, anh trở về mảnh đất Sông Mã, gầm lên khúc độc hành.

Lập dàn ý để cảm nhận vẻ đẹp lãng mạn và bi tráng của người lính Tây Tiến trong khổ thơ thứ ba của bài thơ.

- Dù nói về cái chết, đau thương, mất mát nhưng Quang Dũng ko dùng từ bi quan. Việc sử dụng các từ Hán Việt “biên giới”, “xa xôi”, “áo dài” một cách trang trọng đã làm mờ đi cái lạnh lẽo, bi tráng, làm cho sự hy sinh của những người lính Tây Tiến được đặt trong ko khí thiêng liêng. trang trọng, tạo thái độ trân trọng, quý mến cho người đọc. Và cảm giác âm u, đáng thương nhanh chóng được xóa tan bởi cái tứ hùng tráng, rắn rỏi như một lời thề ở câu 2.

Ra chiến trường ko tiếc đời xanh.

Hình tượng thơ khẳng định mạnh mẽ khí phách của tuổi xanh một thời ko chỉ tự nguyện chấp nhận nhưng mà còn vượt lên trên cái chết, sẵn sàng hiến dâng cả sinh mạng và tuổi xanh cho sự nghiệp cao cả của nhân dân. dân tộc. Họ ra đi với tất cả tâm huyết của một thanh niên yêu nước, sẵn sàng góp sức cuộc sống tốt đẹp nhất cho Tổ quốc. Có người chưa yêu một cô gái, rơi xuống đất vẫn là đàn ông. Người nào nhưng mà ko mang trong mình khát vọng hạnh phúc và tình yêu tuổi xanh, người nào chẳng mong cho mình được sống với tuổi xanh hạnh phúc đầy hoa và mộng. Nhưng những người lính nơi đây ko hề tiếc thương mình, phải chăng trong họ dòng máu hào hùng của thời đại đã in sâu vào tâm trí và hòa cùng dòng máu Lạc Hồng nghìn năm lịch sử. Hình tượng người lính bi tráng và quả cảm của Quang Dũng đã nói lên một điều mấu chốt trong tư cách người lính, đó là biết hy sinh, biết gian truân nhưng vẫn ra đi, họ ra đi “ko tiếc đời xanh”. vì họ đã góp sức tuổi thanh xuân của mình cho những lý tưởng cao đẹp, tranh đấu vì non sông. Họ ra đi và bình yên vô sự:

Áo bào thay chiếu, em về đất

Live Ma rống lên hát solo

- Cách nói “áo thay nước đi” là cách nói bi tráng về sự hi sinh của người chiến sĩ. Hiện thực phũ phàng, bi thương đó đã được thi vị hóa qua hình ảnh “tấm áo” sang trọng để những người anh “về đây” thanh thản, nhẹ nhõm. Quang Dũng kể lại rằng “lúc liệt sĩ nằm xuống, người ta ko đủ sức để quấn lấy, nói áo thay khăn là mượn lời thơ xưa để xoa dịu đồng chí đã ngã xuống”. Hơn nữa, “y phục” còn gợi tới hình ảnh những vị võ tướng ngày xưa quả cảm, hào hoa, nên vong binh cũng xứng đáng uy nghiêm ko kém. Người hùng, bi tráng chứ ko bi quan, bi tráng… Ý thức đó còn được bồi đắp trong câu thơ “Sống… làm”. Tự nhiên gầm lên một khúc ca tuyệt đẹp làm rung động đất trời, đưa bạn về cõi vĩnh hằng. Câu thơ ngân vang như một bản nhạc hào hùng. Âm hưởng hào hùng của bài ca liệt sĩ vang lên từ tiếng “reo hò”. Tiếng gầm đó là một khúc ca bi tráng, khúc hát tiễn đưa người lính về nơi an nghỉ cuối cùng. Bản hùng ca của tự nhiên đã trở thành tiếng khóc nâng sự hy sinh của người lính lên tầm sử thi.

III. Hoàn thành:

- Tóm lại, thành công của đoạn thơ là thi sĩ đã sử dụng nhiều từ Hán Việt gợi sắc thái cổ tích nghiêm trang; sử dụng nghệ thuật đối lập, tư cách hoá, cách nói giảm. Ca từ súc tích, vừa hiện thực vừa giàu sức gợi đã dựng lên hình tượng người lính Tây Tiến, dấu ấn của một thời đại bi tráng nhưng đầy bi tráng. Vẻ đẹp đó ko chỉ là của những người lính Tây Tiến nhưng mà còn là gương mặt ý thức bất tử của những người lính Việt Nam nói chung trong các cuộc trường chinh vệ quốc.

Trên đây là Lập dàn ý cảm nhận vẻ đẹp lãng mạn và bi tráng của người lính Tây Tiến trong khổ thơ thứ ba bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng làm Trường Trường THPT Diễn Châu 2 Được sưu tầm, mong rằng với nội dung tham khảo này các em có thể phát huy tốt nhất bài văn của mình, chúc các em học tốt môn Ngữ Văn!

Đăng bởi: Trường THPT Diễn Châu 2

Phân mục: Văn lớp 12, Ngữ văn 12

[rule_{ruleNumber}]

#Dàn #cảm #nhận #vẻ #đẹp #lãng #mạng #và #tráng #của #người #lính #Tây #Tiến #ở #khổ #thơ #trong #bài #thơ #Tây #Tiến #của #Quang #Dũng #hay #nhất

[rule_3_plain]

#Dàn #cảm #nhận #vẻ #đẹp #lãng #mạng #và #tráng #của #người #lính #Tây #Tiến #ở #khổ #thơ #trong #bài #thơ #Tây #Tiến #của #Quang #Dũng #hay #nhất

Tham khảo Dàn ý cảm nhận vẻ đẹp lãng mạng và bi tráng của người lính Tây Tiến ở khổ thơ ba trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng, qua đó nắm được những ý chính và cách triển khai các luận điểm nhằm hoàn thiện bài viết một cách hoàn chỉnh nhất. Mời các bạn cùng tham khảo!

Dàn ý cảm nhận vẻ đẹp lãng mạng và bi tráng của người lính Tây Tiến ở khổ thơ ba trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng
I. Mở bài:
–  Cuộc kháng chiến chống Pháp đi qua để lại những dâu ấn ko thể phai mờ trong tâm hồn dân tộc. Đó là điểm tụ hội của một triệu tấm lòng yêu nước, là môi trường thử thách ý thức tranh đấu ngoan cường quật cường của nhân dân ta. Cuộc kháng chiến còn làm phát sinh biết bao hình ảnh đẹp nhưng mà đẹp nhất là hình ảnh người lính.
–  Quang Dũng là thi sĩ của lính, đã sống một đời lính thật oanh liệt hào hùng. Có nhẽ vì vậy nhưng mà đời lính đã ăn sâu vào đời thơ.
–  “Tây Tiến” là bài thơ của lính viết về lính nên lúc đọc lên ta thấy ngay chất bi tráng của những chàng trai “Thạch Sanh thếkỉ XX”.
“Tây tiến đoàn binh ko mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hừm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.

   Tản mạn biên giới mồ viễn xứ Chiến trường di chẳng tiếc dời xanh Áo bào thay chiêu, anh về đất Sống Mã gầm lên khúc dộc hành”.

II. Thân bài:
1. Nói chung:
   Tây Tiến là một phân hiệu quân nhân được thành lập đầu năm 1947. Thành phần chủ yêu là các thanh niên trí thức Hà Nội. Nhiệm vụ của họ là phối hợp với quân nhân Lào bảo vệ biên giới phía tây. Năm 1948, Tây Tiến giải thể để thành lập Trung đoàn 52. Quang Dũng cũng chuyển sang đơn vị khác. Sau lúc rời khỏi đơn vị cũ chưa được bao lâu, Quang Dũng đã sáng tác bài thơ này. Đây là đoạn thơ thứ ba trong bài “Tây Tiến”.
2. Khái niệm:
–  Bi tráng trong tác phẩm văn học được trình bày ở việc mô tả hiện thực, ko tránh né cái bi, tức cái gian truân, đau thương. Cái bi thường được biểu thị ở giọng điệu, âm hưởng, màu sắc tráng lệ hào hùng.
–  Chiến trường Tây Tiến khốc liệt, hoang vu, nhiều thú dữ, bệnh sốt rét rừng gây nhiều tử vong, nhiều chiến sĩ đã ngã xuống trên đường hành quân… Đó là cái bi, là cái hiện thực khốc liệt của trận chiến. Quang Dũng ko trốn tránh cái bi nhưng đem lại cho cái bi màu sắc và âm hưởng tráng lệ, hào hùng để thành chất bi tráng. Cái “tráng” này là của Quang Dũng và của cả một lớp trẻ trai như ông thời đó, mang trong lòng một bầu tính nóng “thề quyết tử cho Tổ quôc quyết sinh”. Cái “tráng” đó lại được luồng gió yêu nước của thời người hùng rực lửa thời hiện thời thổi vào nên lại càng hào hùng, rực rỡ. Đúng là “bài thơ này đã được khí phách của cả một thời đại ùa vào, chắp cánh” để cho cái chất bi tráng đó bay lên như một nét đẹp hiếm có của một thời thơ.
3. Chất bi tráng ở khổ 3:
–  Chất bi tráng làm nên sắc diện của bài thơ, có mặt trong tác phẩm, nhưng nổi rõ và in đậm nhất ở đoạn thơ thứ 3 lúc Quang Dũng mô tả chân dung người lính. Giữa nền tự nhiên khắc nghiệt, hình ảnh người lính hiện lên thật là bi tráng. Quang Dũng đã dùng những hình ảnh sát hiện thực để tô đậm cái phi thường của người lính:
Tây Tiến đoàn binh ko mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
–  Hai câu thơ đầu gợi lên vẻ đẹp bi tráng. Trước nhất đó là cái bi thương được gợi lên từ ngoại hình của người lính: ốm yếu, tiều tụy, đầu trọc, da dẻ xanh như tàu lá. Có thể trông thấy cách diễn tả tinh tếcủa Quang Dũng lúc thi sĩ mô tả một đoàn quân “xanh như tàu lá” chứ ko phải xanh xao. Người lính Tây tiến như hòa với tự nhiên cây lá, ốm nhưng mà ko yêu, gầy ốm nhưng mà vẫn trẻ trung, tràn đầy sức sống. Nhắc tới hình ảnh “Đoàn quân ko mọc tóc” tác giả đã gợi lên hình ảnh anh “vệ trọc” một thời. Câu thơ tả cái ngang tàng của người lính, lại như có nét đùa vui hóm hỉnh, ko cần tóc mọc. Dù đói rét, bệnh tật và muôn vàn gian truân, nhưng người lính vẫn bừng bừng khí thế, vẫn “dữ oai hùm”. Cái bi nghiệt ngã nhưng ko hề lân át cái hùng. Dù có tiều tụy về hình hài nhưng ý thức vẫn khỏe khoắn, hùng dũng như chúa sơn lâm, vẫn kiến định lí tưởng cách mệnh qua hình ảnh đôi mắt ngời sáng: “Mắt trừng… thơm”. Đó là cái mộng tranh đấu và thắng lợi. Ớ đây, ta thấy được cái chí và cái tình của người lính. “Chí” trong ánh mắt quyết tử, “tình” bâng khuâng trong giấc mơ lãng mạn: “Đêm….thom”. Hình ảnh Hà Nội và dáng kiều thơm hiện về trong đêm mơ là nguồn động viên, động viên đối với các chiến sĩ. Một tháng kỉ niệm êm đềm trong sáng đó đã tiếp sức cho họ trong trận chiến đấu gian nan. Có nhẽ lí tưởng cách mệnh khiến tình mến thương thêm cao cả, lớn lao. Đó là hai nét khắc họa chân thực và cảm động về cả một thếhệ người Việt dằn lòng gạt tình riêng, ra đi vì nghĩa lớn.
–  Gọi về trong kí ức, Quang Dũng nhắc tới sự hi sinh của người lính Tây Tiến. Tác giả nhìn thẳng vào trong cái bi nhưng đem lại cho nó một vẻ đẹp hào hùng, lẫm liệt và sang trọng:
   Tản mạn biên giới mố viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Áo bào thay chiêu, anh vềđất Sống Mã gầm lên khúc độc hành.

–  Dù nói về cái chết, nỗi đau thương mất mát nhưng Quang Dũng lại ko dùng những từ ngữ bi người nào. Cách dùng từ Hán Việt “biên giới”, “viễn xứ”, “áo bào” trang trọng đã khiến cái bi thương, lạnh lẽo mờ đi, làm cho sự hi sinh của chiến sĩ Tây Tiến được đặt vào một ko khí thiêng liêng trang trọng, tạo tâm thế ngưỡng mộ đầy tôn kính cho người đọc. Và cảm giác âm u, ngậm ngùi nhanh chóng bị xóa đi bởi tứ thơ mạnh mẽ, rắn rỏi như một lời tuyên thệ trong câu 2.
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
–  Hình tượng thơ đậm chất bi tráng, khẳng định mạnh mẽ khí phách của tuổi xanh một thời ko chỉ tự nguyện châp nhận nhưng mà còn vượt lên trên cái chết, sẵn sàng dâng hiên cả sự sống, cả tuổi xanh cho nghĩa lớn của dân tộc. Họ đã ra đi với tất cả lòng say mê của người thanh niên yêu nước, sẵn sàng hiên dâng phần đời đẹp nhất cho non sông. Có người chưa kịp yêu một người con gái, ngã vào lòng đất vẫn còn là đàn ông. Tuổi xanh người nào chẳng mang trong mình một khát vọng hạnh phúc tình yêu, người nào chẳng mong cho mình được sống với tuổi thanh xuân hạnh phúc đầy hoa mộng. Thế nhưng người lính ở đây lại chẳng tiếc cho mình, phải chăng ở họ cái máu người hùng của thời đại đã in đậm trong trí tuệ hòa cùng dòng máu Lạc Hồng mây nghìn năm lịch sử. Hình ảnh người lính bi tráng và hào hùng bởi Quang Dũng đã nói được một điều mấu chốt trong tư cách của người lính, đó là biết hi sinh, biết gian truân nhưng vẫn cứ ra đi, họ ra đi “chẳng tiếc đời xanh” bởi họ hiến dâng tuổi thanh xuân cho lý tưởng cao đẹp, tranh đấu vì tổ quốc. Họ ra đi và ngã xuống thanh thản ko một tẹo vướng bận:
Áo bào thay chiếu, anh về đất
Sống Mã gầm lên khúc độc hành
–  Cách nói “áo bào thay chiêu” là cách nói bi tráng hóa sự hi sinh của người lính. Hiện thực bi thương khôc liệt đã được thi vị hóa qua hình ảnh “áo bào” thật sang trọng để các anh “về đâV’ thanh thản, nhẹ nhõm. Quang Dũng có kể lại “lúc tử sĩ nằm xuống ko đủ manh chiêu để liệm, nói áo bào thay chiêu là mượn cách nói của thơ trước đây để xoa dịu những người đổng chí vừa ngã xuống.” Hơn nữa, “áo bào” còn gợi ra hình ảnh của các bậc võ tướng xưa kiêu hùng hiên ngang thì cái chết của những người lính cũng xứng tầm uy phong trang trọng như thế. Bi tráng, bi tráng chứ ko bi thương, bi quan… Ý thức đó còn được nâng đỡ ở câu thơ “Sống… hành”. Tự nhiên gầm lên khúc tráng ca làm rung rinh cả trời đất đưa các anh về với cõi vĩnh hằng. Câu thơ vẻ vang như một khúc nhạc kỳ vĩ. Âm hưởng bi tráng của khúc chiêu hồn tử sĩ dội lên từ chữ “gầm”. Tiếng gầm đó là khúc nhạc bi tráng, khúc nhạc tiễn đưa người lính về nơi an nghỉ cuối cùng. Khúc tráng ca của tự nhiên trở thành  tiếng khóc lớn nâng sự hi sinh của người lính lên tầm sử thi.
III.   Kết bài:
– Tóm lại, thành công của đoạn thơ là thi sĩ đã sử dụng nhiều từ Hán Việt gợi sắc thái cổ tích nghiêm trang; sử dụng nghệ thuật đối lập, nhân hóa, nói giảm nói tránh. Lời thơ súc tích, vừa đượm chất hiện thực vừa gợi chất hào hùng đã dựng lên bức tượng đài về người lính Tây Tiến, dấu ấn của một thời đại bi thương nhưng đầy bi tráng. Vẻ đẹp đó ko chỉ của những nười lính Tây Tiến nhưng mà còn là gương mặt ý thức bất tử của người lính Việt Nam nói chung trong suốt các cuộc trường chinh vệ quốc lớn lao.
Trên đây là Dàn ý cảm nhận vẻ đẹp lãng mạng và bi tráng của người lính Tây Tiến ở khổ thơ ba trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng do Trường THPT Diễn Châu 2 sưu tầm được, mong rằng với nội dung tham khảo này các em có thể triển khai bài văn của mình tốt nhất, chúc các em học tốt môn Văn!
Đăng bởi: Trường THPT Diễn Châu 2
Phân mục: Lớp 12, Ngữ Văn 12

#Dàn #cảm #nhận #vẻ #đẹp #lãng #mạng #và #tráng #của #người #lính #Tây #Tiến #ở #khổ #thơ #trong #bài #thơ #Tây #Tiến #của #Quang #Dũng #hay #nhất

[rule_2_plain]

#Dàn #cảm #nhận #vẻ #đẹp #lãng #mạng #và #tráng #của #người #lính #Tây #Tiến #ở #khổ #thơ #trong #bài #thơ #Tây #Tiến #của #Quang #Dũng #hay #nhất

[rule_2_plain]

#Dàn #cảm #nhận #vẻ #đẹp #lãng #mạng #và #tráng #của #người #lính #Tây #Tiến #ở #khổ #thơ #trong #bài #thơ #Tây #Tiến #của #Quang #Dũng #hay #nhất

[rule_3_plain]

#Dàn #cảm #nhận #vẻ #đẹp #lãng #mạng #và #tráng #của #người #lính #Tây #Tiến #ở #khổ #thơ #trong #bài #thơ #Tây #Tiến #của #Quang #Dũng #hay #nhất

Tham khảo Dàn ý cảm nhận vẻ đẹp lãng mạng và bi tráng của người lính Tây Tiến ở khổ thơ ba trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng, qua đó nắm được những ý chính và cách triển khai các luận điểm nhằm hoàn thiện bài viết một cách hoàn chỉnh nhất. Mời các bạn cùng tham khảo!

Dàn ý cảm nhận vẻ đẹp lãng mạng và bi tráng của người lính Tây Tiến ở khổ thơ ba trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng
I. Mở bài:
–  Cuộc kháng chiến chống Pháp đi qua để lại những dâu ấn ko thể phai mờ trong tâm hồn dân tộc. Đó là điểm tụ hội của một triệu tấm lòng yêu nước, là môi trường thử thách ý thức tranh đấu ngoan cường quật cường của nhân dân ta. Cuộc kháng chiến còn làm phát sinh biết bao hình ảnh đẹp nhưng mà đẹp nhất là hình ảnh người lính.
–  Quang Dũng là thi sĩ của lính, đã sống một đời lính thật oanh liệt hào hùng. Có nhẽ vì vậy nhưng mà đời lính đã ăn sâu vào đời thơ.
–  “Tây Tiến” là bài thơ của lính viết về lính nên lúc đọc lên ta thấy ngay chất bi tráng của những chàng trai “Thạch Sanh thếkỉ XX”.
“Tây tiến đoàn binh ko mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hừm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.

   Tản mạn biên giới mồ viễn xứ Chiến trường di chẳng tiếc dời xanh Áo bào thay chiêu, anh về đất Sống Mã gầm lên khúc dộc hành”.

II. Thân bài:
1. Nói chung:
   Tây Tiến là một phân hiệu quân nhân được thành lập đầu năm 1947. Thành phần chủ yêu là các thanh niên trí thức Hà Nội. Nhiệm vụ của họ là phối hợp với quân nhân Lào bảo vệ biên giới phía tây. Năm 1948, Tây Tiến giải thể để thành lập Trung đoàn 52. Quang Dũng cũng chuyển sang đơn vị khác. Sau lúc rời khỏi đơn vị cũ chưa được bao lâu, Quang Dũng đã sáng tác bài thơ này. Đây là đoạn thơ thứ ba trong bài “Tây Tiến”.
2. Khái niệm:
–  Bi tráng trong tác phẩm văn học được trình bày ở việc mô tả hiện thực, ko tránh né cái bi, tức cái gian truân, đau thương. Cái bi thường được biểu thị ở giọng điệu, âm hưởng, màu sắc tráng lệ hào hùng.
–  Chiến trường Tây Tiến khốc liệt, hoang vu, nhiều thú dữ, bệnh sốt rét rừng gây nhiều tử vong, nhiều chiến sĩ đã ngã xuống trên đường hành quân… Đó là cái bi, là cái hiện thực khốc liệt của trận chiến. Quang Dũng ko trốn tránh cái bi nhưng đem lại cho cái bi màu sắc và âm hưởng tráng lệ, hào hùng để thành chất bi tráng. Cái “tráng” này là của Quang Dũng và của cả một lớp trẻ trai như ông thời đó, mang trong lòng một bầu tính nóng “thề quyết tử cho Tổ quôc quyết sinh”. Cái “tráng” đó lại được luồng gió yêu nước của thời người hùng rực lửa thời hiện thời thổi vào nên lại càng hào hùng, rực rỡ. Đúng là “bài thơ này đã được khí phách của cả một thời đại ùa vào, chắp cánh” để cho cái chất bi tráng đó bay lên như một nét đẹp hiếm có của một thời thơ.
3. Chất bi tráng ở khổ 3:
–  Chất bi tráng làm nên sắc diện của bài thơ, có mặt trong tác phẩm, nhưng nổi rõ và in đậm nhất ở đoạn thơ thứ 3 lúc Quang Dũng mô tả chân dung người lính. Giữa nền tự nhiên khắc nghiệt, hình ảnh người lính hiện lên thật là bi tráng. Quang Dũng đã dùng những hình ảnh sát hiện thực để tô đậm cái phi thường của người lính:
Tây Tiến đoàn binh ko mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
–  Hai câu thơ đầu gợi lên vẻ đẹp bi tráng. Trước nhất đó là cái bi thương được gợi lên từ ngoại hình của người lính: ốm yếu, tiều tụy, đầu trọc, da dẻ xanh như tàu lá. Có thể trông thấy cách diễn tả tinh tếcủa Quang Dũng lúc thi sĩ mô tả một đoàn quân “xanh như tàu lá” chứ ko phải xanh xao. Người lính Tây tiến như hòa với tự nhiên cây lá, ốm nhưng mà ko yêu, gầy ốm nhưng mà vẫn trẻ trung, tràn đầy sức sống. Nhắc tới hình ảnh “Đoàn quân ko mọc tóc” tác giả đã gợi lên hình ảnh anh “vệ trọc” một thời. Câu thơ tả cái ngang tàng của người lính, lại như có nét đùa vui hóm hỉnh, ko cần tóc mọc. Dù đói rét, bệnh tật và muôn vàn gian truân, nhưng người lính vẫn bừng bừng khí thế, vẫn “dữ oai hùm”. Cái bi nghiệt ngã nhưng ko hề lân át cái hùng. Dù có tiều tụy về hình hài nhưng ý thức vẫn khỏe khoắn, hùng dũng như chúa sơn lâm, vẫn kiến định lí tưởng cách mệnh qua hình ảnh đôi mắt ngời sáng: “Mắt trừng… thơm”. Đó là cái mộng tranh đấu và thắng lợi. Ớ đây, ta thấy được cái chí và cái tình của người lính. “Chí” trong ánh mắt quyết tử, “tình” bâng khuâng trong giấc mơ lãng mạn: “Đêm….thom”. Hình ảnh Hà Nội và dáng kiều thơm hiện về trong đêm mơ là nguồn động viên, động viên đối với các chiến sĩ. Một tháng kỉ niệm êm đềm trong sáng đó đã tiếp sức cho họ trong trận chiến đấu gian nan. Có nhẽ lí tưởng cách mệnh khiến tình mến thương thêm cao cả, lớn lao. Đó là hai nét khắc họa chân thực và cảm động về cả một thếhệ người Việt dằn lòng gạt tình riêng, ra đi vì nghĩa lớn.
–  Gọi về trong kí ức, Quang Dũng nhắc tới sự hi sinh của người lính Tây Tiến. Tác giả nhìn thẳng vào trong cái bi nhưng đem lại cho nó một vẻ đẹp hào hùng, lẫm liệt và sang trọng:
   Tản mạn biên giới mố viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Áo bào thay chiêu, anh vềđất Sống Mã gầm lên khúc độc hành.

–  Dù nói về cái chết, nỗi đau thương mất mát nhưng Quang Dũng lại ko dùng những từ ngữ bi người nào. Cách dùng từ Hán Việt “biên giới”, “viễn xứ”, “áo bào” trang trọng đã khiến cái bi thương, lạnh lẽo mờ đi, làm cho sự hi sinh của chiến sĩ Tây Tiến được đặt vào một ko khí thiêng liêng trang trọng, tạo tâm thế ngưỡng mộ đầy tôn kính cho người đọc. Và cảm giác âm u, ngậm ngùi nhanh chóng bị xóa đi bởi tứ thơ mạnh mẽ, rắn rỏi như một lời tuyên thệ trong câu 2.
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
–  Hình tượng thơ đậm chất bi tráng, khẳng định mạnh mẽ khí phách của tuổi xanh một thời ko chỉ tự nguyện châp nhận nhưng mà còn vượt lên trên cái chết, sẵn sàng dâng hiên cả sự sống, cả tuổi xanh cho nghĩa lớn của dân tộc. Họ đã ra đi với tất cả lòng say mê của người thanh niên yêu nước, sẵn sàng hiên dâng phần đời đẹp nhất cho non sông. Có người chưa kịp yêu một người con gái, ngã vào lòng đất vẫn còn là đàn ông. Tuổi xanh người nào chẳng mang trong mình một khát vọng hạnh phúc tình yêu, người nào chẳng mong cho mình được sống với tuổi thanh xuân hạnh phúc đầy hoa mộng. Thế nhưng người lính ở đây lại chẳng tiếc cho mình, phải chăng ở họ cái máu người hùng của thời đại đã in đậm trong trí tuệ hòa cùng dòng máu Lạc Hồng mây nghìn năm lịch sử. Hình ảnh người lính bi tráng và hào hùng bởi Quang Dũng đã nói được một điều mấu chốt trong tư cách của người lính, đó là biết hi sinh, biết gian truân nhưng vẫn cứ ra đi, họ ra đi “chẳng tiếc đời xanh” bởi họ hiến dâng tuổi thanh xuân cho lý tưởng cao đẹp, tranh đấu vì tổ quốc. Họ ra đi và ngã xuống thanh thản ko một tẹo vướng bận:
Áo bào thay chiếu, anh về đất
Sống Mã gầm lên khúc độc hành
–  Cách nói “áo bào thay chiêu” là cách nói bi tráng hóa sự hi sinh của người lính. Hiện thực bi thương khôc liệt đã được thi vị hóa qua hình ảnh “áo bào” thật sang trọng để các anh “về đâV’ thanh thản, nhẹ nhõm. Quang Dũng có kể lại “lúc tử sĩ nằm xuống ko đủ manh chiêu để liệm, nói áo bào thay chiêu là mượn cách nói của thơ trước đây để xoa dịu những người đổng chí vừa ngã xuống.” Hơn nữa, “áo bào” còn gợi ra hình ảnh của các bậc võ tướng xưa kiêu hùng hiên ngang thì cái chết của những người lính cũng xứng tầm uy phong trang trọng như thế. Bi tráng, bi tráng chứ ko bi thương, bi quan… Ý thức đó còn được nâng đỡ ở câu thơ “Sống… hành”. Tự nhiên gầm lên khúc tráng ca làm rung rinh cả trời đất đưa các anh về với cõi vĩnh hằng. Câu thơ vẻ vang như một khúc nhạc kỳ vĩ. Âm hưởng bi tráng của khúc chiêu hồn tử sĩ dội lên từ chữ “gầm”. Tiếng gầm đó là khúc nhạc bi tráng, khúc nhạc tiễn đưa người lính về nơi an nghỉ cuối cùng. Khúc tráng ca của tự nhiên trở thành  tiếng khóc lớn nâng sự hi sinh của người lính lên tầm sử thi.
III.   Kết bài:
– Tóm lại, thành công của đoạn thơ là thi sĩ đã sử dụng nhiều từ Hán Việt gợi sắc thái cổ tích nghiêm trang; sử dụng nghệ thuật đối lập, nhân hóa, nói giảm nói tránh. Lời thơ súc tích, vừa đượm chất hiện thực vừa gợi chất hào hùng đã dựng lên bức tượng đài về người lính Tây Tiến, dấu ấn của một thời đại bi thương nhưng đầy bi tráng. Vẻ đẹp đó ko chỉ của những nười lính Tây Tiến nhưng mà còn là gương mặt ý thức bất tử của người lính Việt Nam nói chung trong suốt các cuộc trường chinh vệ quốc lớn lao.
Trên đây là Dàn ý cảm nhận vẻ đẹp lãng mạng và bi tráng của người lính Tây Tiến ở khổ thơ ba trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng do Trường THPT Diễn Châu 2 sưu tầm được, mong rằng với nội dung tham khảo này các em có thể triển khai bài văn của mình tốt nhất, chúc các em học tốt môn Văn!
Đăng bởi: Trường THPT Diễn Châu 2
Phân mục: Lớp 12, Ngữ Văn 12

[rule_{ruleNumber}]

#Dàn #cảm #nhận #vẻ #đẹp #lãng #mạng #và #tráng #của #người #lính #Tây #Tiến #ở #khổ #thơ #trong #bài #thơ #Tây #Tiến #của #Quang #Dũng #hay #nhất

[rule_3_plain]

#Dàn #cảm #nhận #vẻ #đẹp #lãng #mạng #và #tráng #của #người #lính #Tây #Tiến #ở #khổ #thơ #trong #bài #thơ #Tây #Tiến #của #Quang #Dũng #hay #nhất

Tham khảo Dàn ý cảm nhận vẻ đẹp lãng mạng và bi tráng của người lính Tây Tiến ở khổ thơ ba trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng, qua đó nắm được những ý chính và cách triển khai các luận điểm nhằm hoàn thiện bài viết một cách hoàn chỉnh nhất. Mời các bạn cùng tham khảo!

Dàn ý cảm nhận vẻ đẹp lãng mạng và bi tráng của người lính Tây Tiến ở khổ thơ ba trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng
I. Mở bài:
–  Cuộc kháng chiến chống Pháp đi qua để lại những dâu ấn ko thể phai mờ trong tâm hồn dân tộc. Đó là điểm tụ hội của một triệu tấm lòng yêu nước, là môi trường thử thách ý thức tranh đấu ngoan cường quật cường của nhân dân ta. Cuộc kháng chiến còn làm phát sinh biết bao hình ảnh đẹp nhưng mà đẹp nhất là hình ảnh người lính.
–  Quang Dũng là thi sĩ của lính, đã sống một đời lính thật oanh liệt hào hùng. Có nhẽ vì vậy nhưng mà đời lính đã ăn sâu vào đời thơ.
–  “Tây Tiến” là bài thơ của lính viết về lính nên lúc đọc lên ta thấy ngay chất bi tráng của những chàng trai “Thạch Sanh thếkỉ XX”.
“Tây tiến đoàn binh ko mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hừm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.

   Tản mạn biên giới mồ viễn xứ Chiến trường di chẳng tiếc dời xanh Áo bào thay chiêu, anh về đất Sống Mã gầm lên khúc dộc hành”.

II. Thân bài:
1. Nói chung:
   Tây Tiến là một phân hiệu quân nhân được thành lập đầu năm 1947. Thành phần chủ yêu là các thanh niên trí thức Hà Nội. Nhiệm vụ của họ là phối hợp với quân nhân Lào bảo vệ biên giới phía tây. Năm 1948, Tây Tiến giải thể để thành lập Trung đoàn 52. Quang Dũng cũng chuyển sang đơn vị khác. Sau lúc rời khỏi đơn vị cũ chưa được bao lâu, Quang Dũng đã sáng tác bài thơ này. Đây là đoạn thơ thứ ba trong bài “Tây Tiến”.
2. Khái niệm:
–  Bi tráng trong tác phẩm văn học được trình bày ở việc mô tả hiện thực, ko tránh né cái bi, tức cái gian truân, đau thương. Cái bi thường được biểu thị ở giọng điệu, âm hưởng, màu sắc tráng lệ hào hùng.
–  Chiến trường Tây Tiến khốc liệt, hoang vu, nhiều thú dữ, bệnh sốt rét rừng gây nhiều tử vong, nhiều chiến sĩ đã ngã xuống trên đường hành quân… Đó là cái bi, là cái hiện thực khốc liệt của trận chiến. Quang Dũng ko trốn tránh cái bi nhưng đem lại cho cái bi màu sắc và âm hưởng tráng lệ, hào hùng để thành chất bi tráng. Cái “tráng” này là của Quang Dũng và của cả một lớp trẻ trai như ông thời đó, mang trong lòng một bầu tính nóng “thề quyết tử cho Tổ quôc quyết sinh”. Cái “tráng” đó lại được luồng gió yêu nước của thời người hùng rực lửa thời hiện thời thổi vào nên lại càng hào hùng, rực rỡ. Đúng là “bài thơ này đã được khí phách của cả một thời đại ùa vào, chắp cánh” để cho cái chất bi tráng đó bay lên như một nét đẹp hiếm có của một thời thơ.
3. Chất bi tráng ở khổ 3:
–  Chất bi tráng làm nên sắc diện của bài thơ, có mặt trong tác phẩm, nhưng nổi rõ và in đậm nhất ở đoạn thơ thứ 3 lúc Quang Dũng mô tả chân dung người lính. Giữa nền tự nhiên khắc nghiệt, hình ảnh người lính hiện lên thật là bi tráng. Quang Dũng đã dùng những hình ảnh sát hiện thực để tô đậm cái phi thường của người lính:
Tây Tiến đoàn binh ko mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
–  Hai câu thơ đầu gợi lên vẻ đẹp bi tráng. Trước nhất đó là cái bi thương được gợi lên từ ngoại hình của người lính: ốm yếu, tiều tụy, đầu trọc, da dẻ xanh như tàu lá. Có thể trông thấy cách diễn tả tinh tếcủa Quang Dũng lúc thi sĩ mô tả một đoàn quân “xanh như tàu lá” chứ ko phải xanh xao. Người lính Tây tiến như hòa với tự nhiên cây lá, ốm nhưng mà ko yêu, gầy ốm nhưng mà vẫn trẻ trung, tràn đầy sức sống. Nhắc tới hình ảnh “Đoàn quân ko mọc tóc” tác giả đã gợi lên hình ảnh anh “vệ trọc” một thời. Câu thơ tả cái ngang tàng của người lính, lại như có nét đùa vui hóm hỉnh, ko cần tóc mọc. Dù đói rét, bệnh tật và muôn vàn gian truân, nhưng người lính vẫn bừng bừng khí thế, vẫn “dữ oai hùm”. Cái bi nghiệt ngã nhưng ko hề lân át cái hùng. Dù có tiều tụy về hình hài nhưng ý thức vẫn khỏe khoắn, hùng dũng như chúa sơn lâm, vẫn kiến định lí tưởng cách mệnh qua hình ảnh đôi mắt ngời sáng: “Mắt trừng… thơm”. Đó là cái mộng tranh đấu và thắng lợi. Ớ đây, ta thấy được cái chí và cái tình của người lính. “Chí” trong ánh mắt quyết tử, “tình” bâng khuâng trong giấc mơ lãng mạn: “Đêm….thom”. Hình ảnh Hà Nội và dáng kiều thơm hiện về trong đêm mơ là nguồn động viên, động viên đối với các chiến sĩ. Một tháng kỉ niệm êm đềm trong sáng đó đã tiếp sức cho họ trong trận chiến đấu gian nan. Có nhẽ lí tưởng cách mệnh khiến tình mến thương thêm cao cả, lớn lao. Đó là hai nét khắc họa chân thực và cảm động về cả một thếhệ người Việt dằn lòng gạt tình riêng, ra đi vì nghĩa lớn.
–  Gọi về trong kí ức, Quang Dũng nhắc tới sự hi sinh của người lính Tây Tiến. Tác giả nhìn thẳng vào trong cái bi nhưng đem lại cho nó một vẻ đẹp hào hùng, lẫm liệt và sang trọng:
   Tản mạn biên giới mố viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Áo bào thay chiêu, anh vềđất Sống Mã gầm lên khúc độc hành.

–  Dù nói về cái chết, nỗi đau thương mất mát nhưng Quang Dũng lại ko dùng những từ ngữ bi người nào. Cách dùng từ Hán Việt “biên giới”, “viễn xứ”, “áo bào” trang trọng đã khiến cái bi thương, lạnh lẽo mờ đi, làm cho sự hi sinh của chiến sĩ Tây Tiến được đặt vào một ko khí thiêng liêng trang trọng, tạo tâm thế ngưỡng mộ đầy tôn kính cho người đọc. Và cảm giác âm u, ngậm ngùi nhanh chóng bị xóa đi bởi tứ thơ mạnh mẽ, rắn rỏi như một lời tuyên thệ trong câu 2.
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
–  Hình tượng thơ đậm chất bi tráng, khẳng định mạnh mẽ khí phách của tuổi xanh một thời ko chỉ tự nguyện châp nhận nhưng mà còn vượt lên trên cái chết, sẵn sàng dâng hiên cả sự sống, cả tuổi xanh cho nghĩa lớn của dân tộc. Họ đã ra đi với tất cả lòng say mê của người thanh niên yêu nước, sẵn sàng hiên dâng phần đời đẹp nhất cho non sông. Có người chưa kịp yêu một người con gái, ngã vào lòng đất vẫn còn là đàn ông. Tuổi xanh người nào chẳng mang trong mình một khát vọng hạnh phúc tình yêu, người nào chẳng mong cho mình được sống với tuổi thanh xuân hạnh phúc đầy hoa mộng. Thế nhưng người lính ở đây lại chẳng tiếc cho mình, phải chăng ở họ cái máu người hùng của thời đại đã in đậm trong trí tuệ hòa cùng dòng máu Lạc Hồng mây nghìn năm lịch sử. Hình ảnh người lính bi tráng và hào hùng bởi Quang Dũng đã nói được một điều mấu chốt trong tư cách của người lính, đó là biết hi sinh, biết gian truân nhưng vẫn cứ ra đi, họ ra đi “chẳng tiếc đời xanh” bởi họ hiến dâng tuổi thanh xuân cho lý tưởng cao đẹp, tranh đấu vì tổ quốc. Họ ra đi và ngã xuống thanh thản ko một tẹo vướng bận:
Áo bào thay chiếu, anh về đất
Sống Mã gầm lên khúc độc hành
–  Cách nói “áo bào thay chiêu” là cách nói bi tráng hóa sự hi sinh của người lính. Hiện thực bi thương khôc liệt đã được thi vị hóa qua hình ảnh “áo bào” thật sang trọng để các anh “về đâV’ thanh thản, nhẹ nhõm. Quang Dũng có kể lại “lúc tử sĩ nằm xuống ko đủ manh chiêu để liệm, nói áo bào thay chiêu là mượn cách nói của thơ trước đây để xoa dịu những người đổng chí vừa ngã xuống.” Hơn nữa, “áo bào” còn gợi ra hình ảnh của các bậc võ tướng xưa kiêu hùng hiên ngang thì cái chết của những người lính cũng xứng tầm uy phong trang trọng như thế. Bi tráng, bi tráng chứ ko bi thương, bi quan… Ý thức đó còn được nâng đỡ ở câu thơ “Sống… hành”. Tự nhiên gầm lên khúc tráng ca làm rung rinh cả trời đất đưa các anh về với cõi vĩnh hằng. Câu thơ vẻ vang như một khúc nhạc kỳ vĩ. Âm hưởng bi tráng của khúc chiêu hồn tử sĩ dội lên từ chữ “gầm”. Tiếng gầm đó là khúc nhạc bi tráng, khúc nhạc tiễn đưa người lính về nơi an nghỉ cuối cùng. Khúc tráng ca của tự nhiên trở thành  tiếng khóc lớn nâng sự hi sinh của người lính lên tầm sử thi.
III.   Kết bài:
– Tóm lại, thành công của đoạn thơ là thi sĩ đã sử dụng nhiều từ Hán Việt gợi sắc thái cổ tích nghiêm trang; sử dụng nghệ thuật đối lập, nhân hóa, nói giảm nói tránh. Lời thơ súc tích, vừa đượm chất hiện thực vừa gợi chất hào hùng đã dựng lên bức tượng đài về người lính Tây Tiến, dấu ấn của một thời đại bi thương nhưng đầy bi tráng. Vẻ đẹp đó ko chỉ của những nười lính Tây Tiến nhưng mà còn là gương mặt ý thức bất tử của người lính Việt Nam nói chung trong suốt các cuộc trường chinh vệ quốc lớn lao.
Trên đây là Dàn ý cảm nhận vẻ đẹp lãng mạng và bi tráng của người lính Tây Tiến ở khổ thơ ba trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng do Trường THPT Diễn Châu 2 sưu tầm được, mong rằng với nội dung tham khảo này các em có thể triển khai bài văn của mình tốt nhất, chúc các em học tốt môn Văn!
Đăng bởi: Trường THPT Diễn Châu 2
Phân mục: Lớp 12, Ngữ Văn 12

#Dàn #cảm #nhận #vẻ #đẹp #lãng #mạng #và #tráng #của #người #lính #Tây #Tiến #ở #khổ #thơ #trong #bài #thơ #Tây #Tiến #của #Quang #Dũng #hay #nhất

[rule_2_plain]

#Dàn #cảm #nhận #vẻ #đẹp #lãng #mạng #và #tráng #của #người #lính #Tây #Tiến #ở #khổ #thơ #trong #bài #thơ #Tây #Tiến #của #Quang #Dũng #hay #nhất

[rule_2_plain]

#Dàn #cảm #nhận #vẻ #đẹp #lãng #mạng #và #tráng #của #người #lính #Tây #Tiến #ở #khổ #thơ #trong #bài #thơ #Tây #Tiến #của #Quang #Dũng #hay #nhất

[rule_3_plain]

#Dàn #cảm #nhận #vẻ #đẹp #lãng #mạng #và #tráng #của #người #lính #Tây #Tiến #ở #khổ #thơ #trong #bài #thơ #Tây #Tiến #của #Quang #Dũng #hay #nhất

Tham khảo Dàn ý cảm nhận vẻ đẹp lãng mạng và bi tráng của người lính Tây Tiến ở khổ thơ ba trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng, qua đó nắm được những ý chính và cách triển khai các luận điểm nhằm hoàn thiện bài viết một cách hoàn chỉnh nhất. Mời các bạn cùng tham khảo!

Dàn ý cảm nhận vẻ đẹp lãng mạng và bi tráng của người lính Tây Tiến ở khổ thơ ba trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng
I. Mở bài:
–  Cuộc kháng chiến chống Pháp đi qua để lại những dâu ấn ko thể phai mờ trong tâm hồn dân tộc. Đó là điểm tụ hội của một triệu tấm lòng yêu nước, là môi trường thử thách ý thức tranh đấu ngoan cường quật cường của nhân dân ta. Cuộc kháng chiến còn làm phát sinh biết bao hình ảnh đẹp nhưng mà đẹp nhất là hình ảnh người lính.
–  Quang Dũng là thi sĩ của lính, đã sống một đời lính thật oanh liệt hào hùng. Có nhẽ vì vậy nhưng mà đời lính đã ăn sâu vào đời thơ.
–  “Tây Tiến” là bài thơ của lính viết về lính nên lúc đọc lên ta thấy ngay chất bi tráng của những chàng trai “Thạch Sanh thếkỉ XX”.
“Tây tiến đoàn binh ko mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hừm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.

   Tản mạn biên giới mồ viễn xứ Chiến trường di chẳng tiếc dời xanh Áo bào thay chiêu, anh về đất Sống Mã gầm lên khúc dộc hành”.

II. Thân bài:
1. Nói chung:
   Tây Tiến là một phân hiệu quân nhân được thành lập đầu năm 1947. Thành phần chủ yêu là các thanh niên trí thức Hà Nội. Nhiệm vụ của họ là phối hợp với quân nhân Lào bảo vệ biên giới phía tây. Năm 1948, Tây Tiến giải thể để thành lập Trung đoàn 52. Quang Dũng cũng chuyển sang đơn vị khác. Sau lúc rời khỏi đơn vị cũ chưa được bao lâu, Quang Dũng đã sáng tác bài thơ này. Đây là đoạn thơ thứ ba trong bài “Tây Tiến”.
2. Khái niệm:
–  Bi tráng trong tác phẩm văn học được trình bày ở việc mô tả hiện thực, ko tránh né cái bi, tức cái gian truân, đau thương. Cái bi thường được biểu thị ở giọng điệu, âm hưởng, màu sắc tráng lệ hào hùng.
–  Chiến trường Tây Tiến khốc liệt, hoang vu, nhiều thú dữ, bệnh sốt rét rừng gây nhiều tử vong, nhiều chiến sĩ đã ngã xuống trên đường hành quân… Đó là cái bi, là cái hiện thực khốc liệt của trận chiến. Quang Dũng ko trốn tránh cái bi nhưng đem lại cho cái bi màu sắc và âm hưởng tráng lệ, hào hùng để thành chất bi tráng. Cái “tráng” này là của Quang Dũng và của cả một lớp trẻ trai như ông thời đó, mang trong lòng một bầu tính nóng “thề quyết tử cho Tổ quôc quyết sinh”. Cái “tráng” đó lại được luồng gió yêu nước của thời người hùng rực lửa thời hiện thời thổi vào nên lại càng hào hùng, rực rỡ. Đúng là “bài thơ này đã được khí phách của cả một thời đại ùa vào, chắp cánh” để cho cái chất bi tráng đó bay lên như một nét đẹp hiếm có của một thời thơ.
3. Chất bi tráng ở khổ 3:
–  Chất bi tráng làm nên sắc diện của bài thơ, có mặt trong tác phẩm, nhưng nổi rõ và in đậm nhất ở đoạn thơ thứ 3 lúc Quang Dũng mô tả chân dung người lính. Giữa nền tự nhiên khắc nghiệt, hình ảnh người lính hiện lên thật là bi tráng. Quang Dũng đã dùng những hình ảnh sát hiện thực để tô đậm cái phi thường của người lính:
Tây Tiến đoàn binh ko mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
–  Hai câu thơ đầu gợi lên vẻ đẹp bi tráng. Trước nhất đó là cái bi thương được gợi lên từ ngoại hình của người lính: ốm yếu, tiều tụy, đầu trọc, da dẻ xanh như tàu lá. Có thể trông thấy cách diễn tả tinh tếcủa Quang Dũng lúc thi sĩ mô tả một đoàn quân “xanh như tàu lá” chứ ko phải xanh xao. Người lính Tây tiến như hòa với tự nhiên cây lá, ốm nhưng mà ko yêu, gầy ốm nhưng mà vẫn trẻ trung, tràn đầy sức sống. Nhắc tới hình ảnh “Đoàn quân ko mọc tóc” tác giả đã gợi lên hình ảnh anh “vệ trọc” một thời. Câu thơ tả cái ngang tàng của người lính, lại như có nét đùa vui hóm hỉnh, ko cần tóc mọc. Dù đói rét, bệnh tật và muôn vàn gian truân, nhưng người lính vẫn bừng bừng khí thế, vẫn “dữ oai hùm”. Cái bi nghiệt ngã nhưng ko hề lân át cái hùng. Dù có tiều tụy về hình hài nhưng ý thức vẫn khỏe khoắn, hùng dũng như chúa sơn lâm, vẫn kiến định lí tưởng cách mệnh qua hình ảnh đôi mắt ngời sáng: “Mắt trừng… thơm”. Đó là cái mộng tranh đấu và thắng lợi. Ớ đây, ta thấy được cái chí và cái tình của người lính. “Chí” trong ánh mắt quyết tử, “tình” bâng khuâng trong giấc mơ lãng mạn: “Đêm….thom”. Hình ảnh Hà Nội và dáng kiều thơm hiện về trong đêm mơ là nguồn động viên, động viên đối với các chiến sĩ. Một tháng kỉ niệm êm đềm trong sáng đó đã tiếp sức cho họ trong trận chiến đấu gian nan. Có nhẽ lí tưởng cách mệnh khiến tình mến thương thêm cao cả, lớn lao. Đó là hai nét khắc họa chân thực và cảm động về cả một thếhệ người Việt dằn lòng gạt tình riêng, ra đi vì nghĩa lớn.
–  Gọi về trong kí ức, Quang Dũng nhắc tới sự hi sinh của người lính Tây Tiến. Tác giả nhìn thẳng vào trong cái bi nhưng đem lại cho nó một vẻ đẹp hào hùng, lẫm liệt và sang trọng:
   Tản mạn biên giới mố viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Áo bào thay chiêu, anh vềđất Sống Mã gầm lên khúc độc hành.

–  Dù nói về cái chết, nỗi đau thương mất mát nhưng Quang Dũng lại ko dùng những từ ngữ bi người nào. Cách dùng từ Hán Việt “biên giới”, “viễn xứ”, “áo bào” trang trọng đã khiến cái bi thương, lạnh lẽo mờ đi, làm cho sự hi sinh của chiến sĩ Tây Tiến được đặt vào một ko khí thiêng liêng trang trọng, tạo tâm thế ngưỡng mộ đầy tôn kính cho người đọc. Và cảm giác âm u, ngậm ngùi nhanh chóng bị xóa đi bởi tứ thơ mạnh mẽ, rắn rỏi như một lời tuyên thệ trong câu 2.
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
–  Hình tượng thơ đậm chất bi tráng, khẳng định mạnh mẽ khí phách của tuổi xanh một thời ko chỉ tự nguyện châp nhận nhưng mà còn vượt lên trên cái chết, sẵn sàng dâng hiên cả sự sống, cả tuổi xanh cho nghĩa lớn của dân tộc. Họ đã ra đi với tất cả lòng say mê của người thanh niên yêu nước, sẵn sàng hiên dâng phần đời đẹp nhất cho non sông. Có người chưa kịp yêu một người con gái, ngã vào lòng đất vẫn còn là đàn ông. Tuổi xanh người nào chẳng mang trong mình một khát vọng hạnh phúc tình yêu, người nào chẳng mong cho mình được sống với tuổi thanh xuân hạnh phúc đầy hoa mộng. Thế nhưng người lính ở đây lại chẳng tiếc cho mình, phải chăng ở họ cái máu người hùng của thời đại đã in đậm trong trí tuệ hòa cùng dòng máu Lạc Hồng mây nghìn năm lịch sử. Hình ảnh người lính bi tráng và hào hùng bởi Quang Dũng đã nói được một điều mấu chốt trong tư cách của người lính, đó là biết hi sinh, biết gian truân nhưng vẫn cứ ra đi, họ ra đi “chẳng tiếc đời xanh” bởi họ hiến dâng tuổi thanh xuân cho lý tưởng cao đẹp, tranh đấu vì tổ quốc. Họ ra đi và ngã xuống thanh thản ko một tẹo vướng bận:
Áo bào thay chiếu, anh về đất
Sống Mã gầm lên khúc độc hành
–  Cách nói “áo bào thay chiêu” là cách nói bi tráng hóa sự hi sinh của người lính. Hiện thực bi thương khôc liệt đã được thi vị hóa qua hình ảnh “áo bào” thật sang trọng để các anh “về đâV’ thanh thản, nhẹ nhõm. Quang Dũng có kể lại “lúc tử sĩ nằm xuống ko đủ manh chiêu để liệm, nói áo bào thay chiêu là mượn cách nói của thơ trước đây để xoa dịu những người đổng chí vừa ngã xuống.” Hơn nữa, “áo bào” còn gợi ra hình ảnh của các bậc võ tướng xưa kiêu hùng hiên ngang thì cái chết của những người lính cũng xứng tầm uy phong trang trọng như thế. Bi tráng, bi tráng chứ ko bi thương, bi quan… Ý thức đó còn được nâng đỡ ở câu thơ “Sống… hành”. Tự nhiên gầm lên khúc tráng ca làm rung rinh cả trời đất đưa các anh về với cõi vĩnh hằng. Câu thơ vẻ vang như một khúc nhạc kỳ vĩ. Âm hưởng bi tráng của khúc chiêu hồn tử sĩ dội lên từ chữ “gầm”. Tiếng gầm đó là khúc nhạc bi tráng, khúc nhạc tiễn đưa người lính về nơi an nghỉ cuối cùng. Khúc tráng ca của tự nhiên trở thành  tiếng khóc lớn nâng sự hi sinh của người lính lên tầm sử thi.
III.   Kết bài:
– Tóm lại, thành công của đoạn thơ là thi sĩ đã sử dụng nhiều từ Hán Việt gợi sắc thái cổ tích nghiêm trang; sử dụng nghệ thuật đối lập, nhân hóa, nói giảm nói tránh. Lời thơ súc tích, vừa đượm chất hiện thực vừa gợi chất hào hùng đã dựng lên bức tượng đài về người lính Tây Tiến, dấu ấn của một thời đại bi thương nhưng đầy bi tráng. Vẻ đẹp đó ko chỉ của những nười lính Tây Tiến nhưng mà còn là gương mặt ý thức bất tử của người lính Việt Nam nói chung trong suốt các cuộc trường chinh vệ quốc lớn lao.
Trên đây là Dàn ý cảm nhận vẻ đẹp lãng mạng và bi tráng của người lính Tây Tiến ở khổ thơ ba trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng do Trường THPT Diễn Châu 2 sưu tầm được, mong rằng với nội dung tham khảo này các em có thể triển khai bài văn của mình tốt nhất, chúc các em học tốt môn Văn!
Đăng bởi: Trường THPT Diễn Châu 2
Phân mục: Lớp 12, Ngữ Văn 12

#Dàn #cảm #nhận #vẻ #đẹp #lãng #mạng #và #tráng #của #người #lính #Tây #Tiến #ở #khổ #thơ #trong #bài #thơ #Tây #Tiến #của #Quang #Dũnghay #nhất

Bạn thấy bài viết Dàn ý cảm nhận vẻ đẹp lãng mạng và bi tráng của người lính Tây Tiến ở khổ thơ ba trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng(hay nhất) có giải quyết đươc vấn đề bạn tìm hiểu không?, nếu  không hãy comment góp ý thêm về Dàn ý cảm nhận vẻ đẹp lãng mạng và bi tráng của người lính Tây Tiến ở khổ thơ ba trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng(hay nhất) bên dưới để dienchau2.edu.vn có thể chỉnh sửa & cải thiện nội dung tốt hơn cho độc giả nhé! Cám ơn bạn đã ghé thăm Website Trường THPT Diễn Châu 2

Nhớ để nguồn: Dàn ý cảm nhận vẻ đẹp lãng mạng và bi tráng của người lính Tây Tiến ở khổ thơ ba trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng(hay nhất) tại Kiến thức chung

THPT Diễn Châu 2

THPT Diễn Châu 2 – Nghệ An được thành lập vào năm 1965. Trường được tách từ Trường cấp 3 Diễn Châu 1 thành THPT Diễn Châu 2 và THPT Nguyễn Xuân Ôn. Ngôi trường THPT Diễn Châu 2 – Nghệ An mang nhiệm vụ đào tạo các thế hệ học sinh của vùng Trung, Bắc Diễn Châu và một số xã của huyện Yên Thành như: Đô Thành, Đức Thành, Thọ Thành.

Những bài viết liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button