Đặc trưng cơ bản của phép biện chứng cổ đại là gì?

Bạn đang xem: Đặc trưng cơ bản của phép biện chứng cổ đại là gì? tại Trường THPT Diễn Châu 2 – Nghệ An Câu hỏi: Đặc trưng cơ bản của phép biện chứng cổ …

Bạn đang xem: Đặc trưng cơ bản của phép biện chứng cổ đại là gì? tại Trường THPT Diễn Châu 2 – Nghệ An

Câu hỏi: Đặc trưng cơ bản của phép biện chứng cổ đại là gì?

Câu trả lời:

– Đặc trưng cơ bản của phép biện chứng cổ đại là tính tự phát, hồn nhiên; Đây chỉ là những quan điểm biện chứng suy diễn, phỏng đoán trên cơ sở kinh nghiệm trực giác nên chưa trở thành hệ thống lý luận nhận thức mà mới chỉ dừng lại ở việc mô tả tính biện chứng của thế giới.

– Tuy còn hạn chế, nhưng phép biện chứng cổ đại coi thế giới là một thể thống nhất; giữa các bộ phận của thế giới có mối quan hệ qua lại, thâm nhập, tác động và quy định lẫn nhau và đó là cơ sở để phép biện chứng phát triển.

Cùng Top giải pháp tìm hiểu về phép biện chứng nhé!

Phép biện chứng (hay phương pháp biện chứng, phép biện chứng) là phương pháp luận, đây là phương pháp đã tồn tại trong triết học cả phương Đông và phương Tây thời cổ đại. Từ biện chứng (“biện chứng”) có nguồn gốc từ Hy Lạp cổ đại, và trở nên phổ biến thông qua các cuộc đối thoại Socrates của Plato. Phép biện chứng dựa trên những cuộc trò chuyện giữa hai hay nhiều người có quan điểm và ý tưởng khác nhau nhưng có cùng mong muốn thuyết phục người khác. Phương pháp này khác với hùng biện, trong đó một bài phát biểu tương đối dài được đưa ra bởi một người – một phương pháp được các nhà ngụy biện ủng hộ. Các hình thức biện chứng khác nhau phát sinh ở phương Đông và phương Tây theo các giai đoạn lịch sử khác nhau như trường phái Socrates, Ấn Độ giáo, Phật giáo, phép biện chứng trung cổ, trường phái Hegel và chủ nghĩa Mác.

Phép biện chứng là học thuyết về phép biện chứng của thế giới.

– Với tư cách là học thuyết triết học, phép biện chứng khái quát những mối liên hệ phổ biến và những quy luật chung nhất của mọi quá trình vận động, phát triển của các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và xã hội. Suy nghĩ; từ đó xây dựng những nguyên tắc phương pháp luận chung cho quá trình nhận thức và thực tiễn.

– Phép biện chứng đã phát triển qua ba hình thức cơ bản:

+ Phép biện chứng đơn giản của cổ nhân

+ Phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức

Phép biện chứng duy vật trong chủ nghĩa Mác-Lênin.

một. Phép biện chứng đơn giản của thời cổ đại

– Hình thức đầu tiên của phép biện chứng trong lịch sử triết học. Nó là một nội dung cơ bản trong nhiều hệ thống triết học của Trung Quốc, Ấn Độ và Hy Lạp cổ đại. Tiêu biểu cho các tư tưởng biện chứng của triết học Trung Quốc là “thuyết dịch lý” và “thuyết ngũ hành” của Âm Dương gia. Trong triết học Ấn Độ, biểu hiện rõ nét nhất của tư tưởng biện chứng là triết học Phật giáo, với các phạm trù “vô ngã”, “vô thường”, “định mệnh”… Đặc biệt, triết học Hy Lạp cổ đại thể hiện sâu sắc tinh thần của phép biện chứng tự phát. Engels viết: “Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại đều là những nhà biện chứng bẩm sinh, và Aristotle, bộ óc bách khoa nhất trong số họ, cũng đã nghiên cứu những hình thức cơ bản nhất của tư duy biện chứng… Thế giới quan nguyên thủy, ngây thơ nhưng đúng đắn về cơ bản là thế giới quan của các triết gia Hy Lạp cổ đại và lần đầu tiên được Heraclite trình bày một cách rõ ràng: Vạn vật tồn tại đồng thời không tồn tại, vì vạn vật đều trôi qua, vạn vật luôn biến đổi, vạn vật không ngừng sinh diệt. Tuy nhiên, những tư tưởng biện chứng đó về cơ bản vẫn còn ngây thơ, chất phác, tự phát và trừu tượng. Ăng-ghen nhận xét rằng: “Trong triết học này, tư duy biện chứng xuất hiện với tính chất thuần túy tự nhiên, không bị những trở ngại đáng yêu… chính vì người Hy Lạp chưa đạt đến trình độ mổ xẻ, phân tích thế giới tự nhiên, nên họ còn quan niệm của thế giới tự nhiên như một chỉnh thể và xem xét toàn bộ đó dưới góc độ tổng thể. Mối liên hệ phổ biến giữa các hiện tượng tự nhiên chưa được chứng minh cụ thể; đối với họ, mối liên hệ đó là kết quả của sự quan sát trực tiếp.” Phép biện chứng giản đơn cổ đại đã nhận thức đúng về phép biện chứng, nhưng bằng trực giác thiên tài, bằng trực giác ngây thơ non nớt, chứ không phải dựa trên những thành tựu đã phát triển của khoa học tự nhiên.

– Từ cuối thế kỉ XV, khoa học tự nhiên bắt đầu phát triển mạnh, đi sâu vào phân tích, nghiên cứu từng yếu tố riêng lẻ của giới tự nhiên dẫn đến sự ra đời của phương pháp siêu hình. Đến thế kỷ XVIII, phương pháp siêu hình trở thành phương pháp chủ đạo trong tư duy triết học và nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên, khi khoa học tự nhiên chuyển từ nghiên cứu các đối tượng riêng biệt sang nghiên cứu quá trình thống nhất của các đối tượng đó trong mối liên hệ với nhau thì phương pháp tư duy siêu hình không còn phù hợp nữa mà phải chuyển sang một mô hình mới. Tư duy mới cao hơn tư duy biện chứng.

b. Phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức

– Triết học cổ điển Đức ra đời trong những điều kiện lịch sử hết sức đặc biệt. Nước Đức vào cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19 vẫn là một nước rất lạc hậu về kinh tế và chính trị so với nhiều nước ở Châu Âu như Anh, Pháp. Đây cũng là một quốc gia phong kiến ​​điển hình, với 360 tiểu vương quốc tự cung tự cấp trong một liên bang Đức chỉ còn là hình thức, lạc hậu về kinh tế và chính trị. Thủ công nghiệp, công nghiệp và nông nghiệp đã bị đình chỉ.

– Bắt đầu ở Kant và hoàn chỉnh ở Hégel. Theo Engels: “Hình thức thứ hai của phép biện chứng, hình thức quen thuộc nhất đối với các nhà khoa học Đức, là triết học cổ điển Đức, từ Kant đến Hegel”.

– Các nhà triết học cổ điển Đức đã trình bày những tư tưởng cơ bản nhất của phép biện chứng duy tâm một cách có hệ thống. Tính duy tâm trong triết học Hegel thể hiện ở chỗ, ông coi phép biện chứng là bước phát triển ban đầu của “ý niệm tuyệt đối”, coi phép biện chứng chủ quan là cơ sở của phép biện chứng khách quan. Theo Hégel, “ý niệm tuyệt đối” là xuất phát điểm của tồn tại, tự “tha hóa” mình vào tự nhiên và trở lại chính mình trong tồn tại tinh thần. “Tinh thần, suy nghĩ và ý tưởng là cái trước, và thế giới thực chỉ là bản sao của ý tưởng.” Các nhà triết học duy tâm Đức, mà đỉnh cao là Hégel, đã xây dựng phép biện chứng duy tâm với hệ thống các phạm trù, quy luật chung, logic chặt chẽ về ý thức và tinh thần. Lênin nói: “Hégel đã suy đoán một cách tài tình phép biện chứng của sự vật trong phép biện chứng của các khái niệm”. Ăng-ghen cũng nhấn mạnh tư tưởng của Mác: “Sự thần bí mà phép biện chứng lĩnh hội được trong tay Hégel không ngăn cản ông trở thành người đầu tiên trình bày một cách toàn diện và có ý thức các hình thức vận động chung của phép biện chứng. Ở Hégel, phép biện chứng lộn ngược. Chỉ cần được xây dựng lại để tiết lộ hạt nhân hợp lý của nó đằng sau lớp vỏ bí ẩn của nó.”

– Tính duy tâm trong phép biện chứng cổ điển Đức cũng như trong triết học Hêghen là một hạn chế cần phải khắc phục. Mác và Ăng-ghen đã khắc phục hạn chế đó để sáng tạo ra phép biện chứng duy vật. Đó là giai đoạn phát triển cao nhất của phép biện chứng trong lịch sử triết học, là sự kế thừa quan trọng của phép biện chứng cổ điển Đức. Bản thân Engels đã nhận xét: “…có thể nói rằng hầu như chỉ có Mác và tôi là những người đã cứu phép biện chứng tự ý thức khỏi triết học duy tâm Đức và kết hợp nó vào quan niệm duy vật về tự nhiên và về tự nhiên. Môn lịch sử”.

c. Phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác-Lênin

– Khẳng định rằng, thế giới vật chất tồn tại khách quan, các sự vật, hiện tượng luôn vận động và biến đổi, chuyển hóa lẫn nhau, cái cũ mất đi, cái mới ra đời. Vì các sự vật, hiện tượng trong thế giới luôn vận động và biến đổi thường xuyên, nên tư duy của con người phải luôn đổi mới để theo kịp sự vận động và biến đổi đó, như Ph.Ăng-ghen đã viết trong tác phẩm Chống Đuy-rinh: “Phép biện chứng… là khoa học về cái phổ quát. quy luật vận động và phát triển của tự nhiên, xã hội loài người và tư duy”, “là chìa khóa giúp trẻ. người nhận thức và chinh phục thế giới”. Vì vậy, khi xây dựng đường lối đổi mới, Đảng ta đã xác định trước hết phải đổi mới tư duy cho cán bộ, đảng viên cả về phương pháp tư duy; lý luận nhận thức; cơ chế chính sách. Phép biện chứng duy vật là công cụ đắc lực giúp Đảng ta giải quyết triệt để ba vấn đề lớn liên quan đến đường lối đổi mới từ năm 1986 đến nay.

tải về máy in

Bạn thấy bài viết Đặc trưng cơ bản của phép biện chứng cổ đại là gì? có khắc phục đươc vấn đề bạn tìm hiểu ko?, nếu ko hãy comment góp ý thêm về Đặc trưng cơ bản của phép biện chứng cổ đại là gì? bên dưới để Trường THPT Diễn Châu 2 có thể thay đổi & cải thiện nội dung tốt hơn cho các bạn nhé! Cám ơn bạn đã ghé thăm Website: dienchau2.edu.vn của Trường THPT Diễn Châu 2

Nhớ để nguồn bài viết này: Đặc trưng cơ bản của phép biện chứng cổ đại là gì? của website dienchau2.edu.vn

Chuyên mục: Là gì?

Xem thêm:  Anđehit là gì?

Viết một bình luận